Thứ Bảy, 27 tháng 3, 2021

GIA PHẢ PHÁI CHI CAN PHIÊN

LÀNG QUAN NỘI, XÓM ĐẠI ĐỒNG, XÃ ĐÔ LƯƠNG

(Cập nhật bổ sung tháng 29/8/2025)

NGUỒN GỐC THUỶ TỐ HỌ DƯƠNG TRỌNG

Nguồn gốc thủy tổ: họ Dương Trọng làng Quan Nội nguyên quán: thôn Giáp. xã Cao Hương, phủ Nghĩa Hưng, huyện Thiện Bản, tỉnh Nam Định di cư vào Nghệ An khoảng năm 1700. Đã có 1 bài viết riêng trong blog này, bấm link dưới đây để xem

→ Xem bài: Nguồn gốc thủy tổ họ Dương Trọng

CAO TỔ TỘC HỌ DƯƠNG TRỌNG LÀNG QUAN NỘI

Đời thứ 1

D1. Cao tổ khảo, thứ nam DƯƠNG CÔNG LÂM (揚 彸 林), tự CÔNG CƠ (彸 基) là CAO TỔ HỌ DƯƠNG xóm Quan Nội, làn Kim Liên, xã Thịnh Sơn. Sinh năm Nhâm Thìn (1772), Giỏi về nghề ghi chép sổ sách, giữ chức Tri bạ (địa chính). Giỗ ngày 13/2, mộ táng tại Yên Lăng, đồng Nhà Thánh. Cao tổ tỷ Trần Thị Hằng, huý Thị Bằng, hiệu Từ thuận nhụ nhân thần vị. Giỗ ngày 18/1, mộ táng tại Làng Quan Nội, đông xóm Thượng, Quyết Điền xứ, tọa Tý, hướng Ngọ. Thân sinh cụ Công Cơ vốn ở Lãng Điền, có một thời gian xa quê lấy vợ rồi quay về quê cũ của tổ ở xã Yên Lăng, làng Quán Nội, xóm Thượng. Cụ ông bị bệnh mất sớm, cụ bà một mình nuôi con, tạo được ruộng ao vườn chia làm 4 phần có di chúc cho 4 con (3 nam 1 nữ):
D2.1.1 Trưởng nam Dương Trọng Hướng (揚 仲 珦), huý Trọng Dong (仲 瑢), tự là Trọng Dung sinh năm Giáp Tý 1804;
D2.1.2 Thứ nam Dương Trọng Thuyên (揚 仲 銓), huý Trọng Toàn, tự Trọng Uổng, tự Quang Cảnh phu quân, sinh năm Đinh Mão (1807):
D2.1.3 Nam thứ ba Dương Trọng Cầu (揚 仲 球)phu quân, húy Trọng Thứ (仲 庶) sinh năm Kỷ Tỵ (1809)
D2.1.4 Nhất nữ:Dương Thị Đẩu (揚 氏 斗) là em gái Dương Trọng Hướng, lấy chồng Lê Nhâm nhưng không có con nên phần ruộng của bà Đẩu hoàn lại cho 3 chi. Giỗ ngày 13/8. Lăng Tổ bà Dương Nhất Nương hiệu Anh Linh Thần vị ở hậu xóm Thượng được con cháu hậu duệ tôn tạo nhiều lần, đặc biệt năm 2024-2025 có sự đóng góp lớn của Trọng Tư, Trọng Thiết Chi Can Phiên và ông Dương Quốc Huy là người con họ Dương quê ở Bắc Ninh nâng cấp khang trang, có hồ sen, đài phun nước, tưởng rào, sân, đường nội bộ và cổng bằng đá tự nhiên

Cổng vào nhà thờ đại tôn lắp dựng năm Canh Tý 2011

Quần thể Lăng tổ cô Dương Nhất Nương hoàn thành năm 2025

Lăng tổ cô Dương Nhất Nương tại Hậu Xóm Thượng

ĐỜI THỨ 2

Ba con trai kế hậu của cao tổ Dương Công Lâm (Công Cơ)

D2.1 Trưởng Nam, DƯƠNG TRỌNG HƯỚNG (揚 仲 珦): huý Trọng Dong (仲 瑢) tên chữ Trọng Dung (1804 Giáp tý – 4/6/1876 Bính Tý), là trưởng nam thừa hưởng cơ nghiệp của ông cha, trở thành cự phú, ruộng có 2 mẫu, vườn 3 sào, đã khởi công xây dựng từ đường của họ Dương tại xóm Thượng và được con cháu hoàn thành vào năm Tự Đức Canh Thìn (1880). Bà cả Lê Thị Điềm, tên húy Thị Hằng, nhị huý Thị Thiệt, sinh năm Mậụ Dần (1818), là người cùng thôn sinh đắc 2 trai 6 gái, giỗ ngày 21/10. Mộ táng tại Thế Thế Văn xứ Tiên ông là nơi phúc địa (phía sau động Cao xã Bài Sơn). Bà hai Phạm Thị Thân, người Cao Xá, sinh được 1 trai, 1 gái lập gia đình ở thôn Quan Nội, xóm Thượng, sinh 1 con gái. Con 3 trai 7 gái:
D3.1.1 Dương Trọng Đỉnh (Triệt), con bà cả;
D3.1.2 Dương Trọng Hanh, con bà hai;
D3.1.3 Dương Trọng Đình, con bà cả, mất sớm, vô tự, mộ táng ở Đồng Nền, Kim Giai, giồ 13/5
D3.1.4 Dương Thị Thanh, D3.1.5 Dương Thị Đang; D3.1.6 Dương Thị Hạnh; D3.1.7 Dương Thị Bằng; D3.1.8 Dương Thị Đài; D3.1.9 Dương Thị Huỳnh; D3.1.10 Dương Thị Chanh

Con trai Trưởng Dương TrọngTriệt và con thứ Dương Trong Hanh chia ra hai cửa để thờ cúng: Cửa Giáp do cụ Dương Trong Triệt làm Trưởng tộc gọi là Can Trường và Cửa Ất do cụ Dương Trọng Hanh làm Trưởng chi gọi Can Sinh (Chi ông Phương Đài hiện nay)

Bức hoành phi Nhà thờ đại tôn đã hơn 170 năm

ĐỜI THỨ 3

D3.1.1 CỬA GIÁP CHI TRƯỞNG: DƯƠNG TRỌNG TRIỆT (ĐỈNH) mất năm Mậu Tý 1828, giỗ ngày 14/10 (AL) là Can Trường có 03 vợ: Vợ cả Lê Thị Kế sinh 02 nam 03 nữ (giỗ 10/2); Vợ hai: Trần Thị Diên (Duyên) sinh được 01 nữ (giỗ 28/8); Vợ ba: Trần Thị Sâm (còn gọi là Tám) sinh được 03 nam và 03 nữ (giỗ 16/6), tất cả gồm 5 nam 6 nữ:
D4.1.1.1 Dương Trọng Quỳnh (cố Quyên) là con vợ cả Lê Thị Kế là Trưởng tộc- Đại Tôn;
D4.1.1.2 Dương Trọng Hiển, tự Trọng Tâm (cố Vân) là con vợ cả;
D4.1.1.3 Dương Trọng Phiên, tự Quang Thuận, húy Trọng Lang (cố Xiển) là con vợ ba Trần Thị Sâm là Cao tổ Chi Nhánh Can Phiên;
D4.1.1.4 Dương Trọng Khuê, (cố Hoàn) là con vợ ba Trần Thị Sâm;
D4.1.1.5 Dương Trọng Phan (chết sớm); là con vợ ba Trần Thị Sâm;
D4.1.1.6 Dương Thị Lâm (con Bà Sâm), chồng Thái Khắc Khẩn làng Hội Tâm có 3 trai 3 gái;
D4.1.1.6 Dương Thị Thời (con Bà Sâm), chồng Thái Khắc Biểu cùng thôn Thượng, có 2 trai 1 gái;
Còn 4 nữ gia phả không ghi rõ tên.

D3.1.2 THỨ NAM DƯƠNG TRỌNG HANH (揚 仲 亨), tự Trọng Kỳ, còn có tên Trọng Quách con bà hai, được học hành chu đáo, giữ chức Phó Lý (không do quan trên bổ nhiệm do dân bầu, tương đương với cấp Phó chủ tịch xã), mộ táng tại Đồng Quan. Cố bà chính thất Thái Thị Nhàn ở xóm Hội Tâm sinh nhất nam:
D4.1.2.1.1 Dương Trọng Hoán (cố Phó Tiệp)

ĐỜI THỨ 4. TRƯỞNG TỘC DƯƠNG HƯỚNG

Đến đời thứ 4, con cháu phát triển nhanh, Trọng Hoán là con Dương Hanh tách khỏi Chi Trưởng Trọng Đỉnh- Can Trường lập Phái Chi Dương Hanh, cửa thứ gọi là Can Sinh Dương Hanh. Trưởng tộc Dương Hướng là cửa giáp- Can trường gồm các con của Trưởng tộc Dương Trọng Đỉnh và ba bà: Lê Thị Kế; Trần Thị Diên (Duyên) và Trần Thị Sâm (Tám) gồm 5 nam 6 nữ:
:

Con trai Trưởng nam Dương Trọng Đỉnh D3.1.1

D4.11.1 Trưởng nam DƯƠNG TRỌNG QUỲNH 揚 仲 琼 (CỐ QUYÊN) con bà cả Lê Thị Kế, là Trưởng tộc Dương Hướng (Can Trường) đời thứ 4, là Lý trưởng, quan viên chức Cai xã được gọi là Dương Trưởng Công Quang Cảnh phu quân, (giỗ 13/11), cố bà chính thất Phạm Thị Trường quê xã Yên Lăng, sinh 3 nam 1 nữ:
D5.111.1 Dương Trọng Châu;
D5.111.2 Dương Trọng Thụy (mất sớm);
D5.111.3 Dương Trọng Chương;
D5.111.4 Dương Thị Bích;
D5.111.5 Dương Thị Liễu;
D5.111.6 Dương Thị Thiều;

D4.11.2 Thứ nam DƯƠNG TRỌNG THƯ còn có tên là HIỂN, tự Trọng Tâm (cố VÂN), con bà hai Trần Thị Diên. Nhà dàu có, rất đông con (sinh 13 trai, mất 6 còn 7 trai) tự lập nhà thờ riêng tách thành Phái chi Can Vân để thờ tự. Vợ cả chính thất Thái Thị Nghi, vợ hai Thái Thị Tần quê làng Hội Tâm. Con 7 trai:
D5.112.1 Dương Trọng Chiểu;
D5.112.2 Dương Trọng Chấn;
D5.112.3 Dương Trọng Cẩn;
D5.112.4 Dương Trọng Quyền;
D5.112.5 Dương Trọng Vinh;
D5.112.6 Dương Trọng Hồ;
D5.112.7 Dương Trọng Hổ

D4.11.3 Nam thứ ba DƯƠNG TRỌNG PHIÊN: con của bà ba Trần Thị Sâm (Tám), tự Quang Thuận Trọng Lang, còn gọi là cố Xiển (1780 – 20/1/1856), thi đậu 2 khoá Mậu Ngọ (1858) và Giáp Tý (1864) nhưng không ra làm quan, là Trùm lênh bản xã, Thông lệnh bản thôn, Trùm giáp (là các chức danh do dân bầu thuộc Hội đồng làng, không do quan trên bổ nhiệm). Về nhà thờ ban đầu là thờ cửa Trưởng Dương Hưởng, sau thờ chung với Phái Chi Can Vân. Trước năm 1950 con cháu Can Phiên làm nhà thờ trong khuôn viên nhà ông Dương Trọng Anh tách thành Phái chi Can Phiên để thờ tự. Vợ cả chính thất Thái Thị Hạnh, không rõ tung tích; vợ hai á thất Thái Thị Tấn hiệu trinh thuận nhu nhân là con gái đầu của cụ Thái Văn Bằng và cụ bà kế thất Trần Thị Nghị ở thôn Nhuận Trạch (sau đổi thành Hậu Trạch), xã Tiên Nông, tổng Vân Tụ, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An nay là xã Thịnh Thành, Yên Thành. Cụ Tấn sinh 3 trai 2 gái:
D5.113.1 Dương Trọng Anh;
D5.113.2 Dương Trọng Dốc;
D5.113.3 Dương Trọng Đôn;
D5.113.4 Dương Thị Doan; Còn một nữ không rõ tung tích

D4.11.4 Nam thư tư DƯƠNG TRỌNG KHUÊ: (cố Hoàn) thuỵ Văn Ngọc phu quân, con bà ba Trần Thị Sâm, là lý trưởng kiêm văn lệnh, tri lệnh chức (thừa phát lại). Vợ Thái Thị Toàn làng Hội Tâm, có 5 con trai mất 2; 2 con gái mất sớm, còn 3 trai:
D5.114.1 Dương Trọng Doãn (cố Thuân);
D5.114.2 Dương Trọng Tư (cố Phúc);
D5.114.3 Dương Trọng Hải, mất sớm

ĐỜI THỨ 5. TÁCH PHÁI CHI CAN PHIÊN

Trưởng tộc Dương Trọng Đỉnh có 3 vợ: - Trưởng nam Trọng Quỳnh con bà cả kế thừa cha làm Trưởng tộc Dương Hướng. - Thứ nam Dương Trọng Thư, tự Trọng Tâm (cố Vân) con bà hai, tự lập nhà thờ tách thành Phái chi Can Vân. - Hai nam Trọng Phiên, Trọng Khuê con bà ba tách thành 2 Phái chi Can Phiên, Phái chi Can Hoàn để thờ tự: Ban dầu Can phiên thờ ở cửa trưởng Dương Hưởng, sau thờ chung với Phái Chi Can Vân. Sau khi lập Phái chi Can Phiên, Chi họ mua gỗ đền Cồn Sư (ở Đồng Mười) để làm nhà thờ (ông Diên bố ông Tràng mua một phần để làm nhà đang ở hiện nay). Năm 1959 Chi họ bán nhà thờ cho ông Nguyễn Công Cương xóm 1 Tam Đồng và xây lại nhà thờ mới hướng tây ở góc phía đông nam nhà ông Mậu. Năm 1998 làm lại nhà thờ bằng gỗ xoan đâu do ông Đào mua. Năm 2016 làm lại nhà thờ 3 gian, nhà hạ đường bằng gỗ lim và Tắc môn bằng đá tự nhiên, diện tích 290 m2 với sự đóng góp rất lớn của Trọng Thiết, Trọng Tư, Trọng Tuấn.

Nghĩa trang Can Phiên tại Đập Khe Răm hoàn thành năm 2011

Ba con trai can Phiên D4.11.3 và bà hai Thái Thị Tấn:

D5.113.1 Trưởng nam DƯƠNG TRỌNG ANH (1844 - 1926): thọ 83 tuổi. Vợ Nguyễn Thị Kính (1844-1932), thọ 89 tuổi, quê làng Yên Thế, xã Thịnh Sơn thuộc dòng họ Nguyễn Đình, xóm Yên Thế, đắc sinh 2 trai 1 gái:
D6.1131.1 Dương Trọng Phác
D6.1131.2 Dương Trọng Trớc
D6.1131.3 Dương Thị Nhiếp chồng là Thái Văn Khơi, đi lính cho Pháp được phong là Cửu Phẩm, được goi là ông Cửu Khơi quê ở xóm Chùa, làng Kim Liên

D5.113.2 DƯƠNG TRỌNG DỐC (1860 - 01/1922): Đi lính cho Pháp. Vợ Nguyễn Thị Dênh (1870 - 11/1942) người cùng quê. Có 4 trai, 4 gái:
D6.1132.1 Dương Trọng Lốc vô tự
D6.1132.2 Dương Trọng Lục
D6.1132.3 Dương Trọng Ngọc
D6.1132.4 Dương Trọng On
D6.1132.5 Dương Thị Quý
D6.1132.6 Dương Thị Choai (bà Diến)
D6.1132.7 Dương Thị Mỹ (bà Hùng)
D6.1132.8 Dương Thị Bảy (bà Thư)

D5.113.3 DƯƠNG TRỌNG ĐÔN (1875 - 22/02/1935): ông Kiều là con trai lấy ngày mất của cha là làm ngày giổ hợp kỵ, ông Đôn là Trạng Hương Hiệu làng Kim Liên (chức trong Hội đồng Làng, còn gọi là Ban Hội Tề thời Pháp thuộc). Bà cả: Thái Thị Đoài (1873- 08/1931), hưởng dương 52 tuổi, không có con, thuộc dòng họ Thái Văn- chi tộc ông Thái Văn Giêng ở xóm 6, xã Thịnh Sơn (có con là Thái Văn Minh). Bà hai: Hoàng Thị Đích (bà Thuần) (1883- 08/1956), thọ 73 tuổi, không có con, quê xóm Xuân Sơn, xã Hoà Sơn, thuộc dòng họ ông Hoàng Văn Nhân, có con là ông Hoàng Văn Thanh bác sỹ về hưu ở Hòa Sơn. Bà ba Thái Thị Đường (bà Dật) (1899- 26/06/1977) thọ 77 tuổi, thuộc dòng họ ông Thái Khắc Thâm xã Thịnh Sơn, di dân lên xóm Tân Tiến- xã Kỳ Sơn, huyện Tân Kỳ. Do muộn con, ông Đôn xin cháu Dương Trọng Trớc là con thứ hai của anh đầu Dương Trọng Anh làm con nuôi, nên còn gọi ông Hiệu Trớc. Ông Đôn trên 50 tuổi mới có 3 con với bà Đường:
D6.1133.1 Dương Trọng Kiều
D6.1133.2 Dương Thị Tuyết (1930 - 07/02/2021) thọ 92 tuổi, chồng là Thái Văn Dơu con ông Thái Văn Luyện ở xóm Đại Đồng, xã Thịnh Sơn, sau đó di dân lên động Khô, xóm Yên Thế. Sinh được 4 trai 3 gái: Thái Văn Đài, Văn Linh, Văn Lý, Văn Bảy (chết lúc đi bộ đội), Thị Lân, Thị Hương (mất 2025) và Thị Tình:
D6.1133.3 Dương Thị Nguyệt (1935), chồng đầu người Hòa Sơn, đi học tại Trung Quốc có 1 con là Nguyễn Văn Hòa mất năm 2016. Vợ chồng li dị, lấy chồng hai là Nguyễn Văn Yên quê xã Văn Sơn- Đô Lương, di dân lên xã Kỳ Sơn- huyện Tân Kỳ. Sinh được 2 trai 4 gái: Nguyễn Thị Bình; Thị Thế; Thị Hệ; Thị Sáu, Nguyễn Văn Bảy và Nguyễn Văn Quang

ĐỜI THỨ 6. PHÁI CHI CAN PHIÊN

Ảnh Nhà thờ Can Phiên hoàn thành năm 2020

Con trai ông Dương Trọng Anh D5.113.1 Chi trưởng:

D6.1131.1 Trưởng nam DƯƠNG TRỌNG PHÁC (1871-2/1928): Tộc trưởng đời thứ 6.. Vợ Trần Thị Thiêng (1876-1972), thọ 97 tuổi, thuộc dòng họ Trần Văn, quê xóm 7, xã Thịnh Sơn. Có 1 trai và 2 gái:
D7.11311.1 Dương Trọng Phớt
D7.11311.2 Dương Thị Cát: Lấy ông Nguyễn Cảnh Xích (ông Chinh) ở xã Thịnh Sơn. Có 1 trai và 2 gái là: Nguyễn Cảnh Dần; Nguyễn Thị Tịnh; Nguyễn Thị Ba
D7.11311.3 Dương Thị Đợt lấy chồng đầu: Nguyễn Sỹ Trinh- Quê Xã Văn Sơn, Đô Lương, có 02 con trai, ông Trinh mất lấy chồng 2: Nguyễn Xuân Dung xóm 13, xã Thịnh Sơn, có 1 con trai và 4 gái

D6.1131.2 DƯƠNG TRỌNG TRỚC (1887 - 07/1944): Ông Trớc là con thứ 2 của ông Dương Trọng Anh. Ông Đôn là em ruột, 2 bà vợ đầu không có con, nên đưa ông Trớc về làm con nuôi. Vợ cả: Thái Thị Nhị: (1889-1912), chết trẻ. Vợ hai: Đinh Thị Nậy (1896-1982) thọ 87 tuổi, quê xã Thanh Văn, huyện Thanh Chương. Bà hai có 2 con trai và 3 con gái:
D7.11312.1 Dương Thị Hồng (……) lấy ông Nguyễn Tất Tạo ở xã Tân Sơn, huyện Đô Lương, có 02 con trai là: Nguyễn Tất Thảo nay cư trú ở Thành phố Hồ Chí Minh và Nguyễn Tất Từu liệt sỹ hy sinh tại chiến trường miền Nam.
D7.11312.2 Dương Thị Mai (1932- 2024) thọ 93 tuổi. Lấy chồng là ông Thái Doãn Dình quê ở xã Thịnh Sơn. Sinh 08 con: Thái Doãn Văn; Thái Doãn Lý; Thái Thị Tý; Thái Thị Kỷ; Thái Thị Thân; Thái thị Sáu; Thái Doãn Bảy; Thái Thị Tám
D7.11312.3 Dương Thị Sinh (1935- 10/1996). Lấy ông Nguyễn Văn Em, quê ở Nam Đàn, công nhân nhà máy điện Vinh, mất năm 1968. Có 04 con: Nguyễn Văn Tân, lập nghiệp, sinh sống tại tỉnh Đồng Nai; Nguyễn Văn Long; Nguyễn Thị Hà chết sớm và Nguyễn Thị Hải công nhân Chi nhánh điện Vinh
D7.11312.4 Dương Trọng Đức
D7.11312.5 Dương Trọng Ngọ

Con trai ông Dương Trọng Dốc D5.113.2:

D6.1132.1 DƯƠNG TRỌNG LỐC Trưởng nam (1887-1937): chết trẻ. Vợ cả: Thái Thị Hoàn (1896- 1962). Có 4 gái, 2 trai. Vợ 2: Thái Thị Xý, không có con, ô Lốc mất lúc 51 tuổi, bà Xý tái giá. Các con bà Hoàn:
D7.11321.1 Dương Thị Loan: chồng là ông Nguyễn Tất Khoan, ở Tân Sơn, Đô Lương, các con là: Nguyễn Thị Khoan; Nguyễn Tất Bồn; Tất Bàn; Thị Hường; Thị Ngoạn; Thị Ngoan
D7.11321.2 Dương Thị Phương: chồng là Thái Khắc Vượng quê ở xóm 2 xã Thịnh Sơn, là giáo viên, sinh 2 trai 3 gái: Thái Thị Lan; Thị Hường; Thái Khắc Lý; Thị Xuân và Thái Khắc Vạn
D7.11321.3 Dương Thị Nhỏ: chồng Phạm Đình Lợi, quê xã Hoà Sơn, Các con: Phạm Thị Châu; Phạm Đình Luật; Thị Tư; Thị Hoa; Phạm Đình Năm
D7.11321.4 Dương Thị Thi, (1932- 24/5/2021), thọ 92, chồng Nguyễn Tất Duận (1930-2008), thọ 79, công an quê xã Tân Sơn. Bà Hoàn không có con trai, ông Duẩn ở rể tại xóm 8. Các con: Nguyễn Thị Lan; Nguyễn Tất Nhuận (1957), sinh các con: Nguyễn Thị Nhung (1965); Nguyễn Thị Dung (1971); Nguyễn Thị Trung (1974). Con ông Nhuận: Nguyễn Tất Sơn (1983); Nguyễn Tất Hà (1985); Nguyễn Tất Hưng (1990). Do không có con trai bà Thi và ông Duẩn thờ cúng cha vợ Dương Trọng Lốc D7.11321.5 Dương Thị Năm: Chồng Nguyễn Văn Cát, quê Yên Sơn. Có các con: Nguyễn Văn Sơn, Nguyễn Thị Hà, Nguyễn Thị Hường

D6.1132.2 DƯƠNG TRỌNG LỤC (1898-1930): chết trẻ lúc 33 tuổi. Vợ: Thái Thị Thê (1898-1963), quê làng Hội Tâm, Thịnh Sơn thuộc dòng họ Thái Văn. Có 2 trai:
D7.11322.1 Dượng Trọng Kỳ
D7.11322.2 Dương Trọng Sâm (Kình)

D6.1132.3 DƯƠNG TRỌNG NGỌC (ĐOÀN) (1895-1945): mất khi 50 tuổi. Chạy Sinh Đồ thời thuộc Pháp gọi là ông Đồ Ngọc. Vợ Thái Thị Đê: (1892- 1963), người cùng xã. Có 3 trai và 4 gái:
D7.11323.1 Dương Thị Đoàn: chồng Nguyễn Xuân Oánh (Kỷ);
D7.11323.2 Dương Trọng Yêm: (1924-1944), tảo mệnh (18 tuổi)
D7.11323.3 Dương Trọng Yên:
D7.11323.4 Dương Thị Triển: chồng ông Huyền;
D7.11323.5 Dương Trọng Đông
D7.11323.6 Dương Thị Hợi: chồng ông Thanh
D7.11323.7 Dương Thị Vợi: chồng ông Ngọ

D6.1132.4 DƯƠNG TRỌNG ON (1907-1990): thọ 84 tuổi, thủ quỹ HTX nông nghiệp, ĐVĐCSVN- Huân chương chống Mỹ hạng 2; Vợ Nguyễn Thị Oánh (1918- 1993), quê xã Tân Sơn. Sinh 2 trai, 4 gái:
D7.11324.1 Dương Trọng Trạch
D7.11324.2 Dương Trọng Chung: tảo mệnh (09 tuổi)
D7.11324.3 Dương Thị Dung (1938). Chồng Thái Doãn Tiến, quê xóm 7 xã Thịnh Sơn. Các con: Thái Thị Hoa, Thái Doãn Tân, Thái Doãn Toàn và Thái Thị Hồng
D7.11324.4 Dương Thị Xuân (1941. Chồng là ông Khoan, người miền Nam tập kết, sau năm 1975 theo chồng về Bình Thuận
D7.11324.5 Dương Thị Kiên (1944) cán bộ Thương nghiệp Diễn Châu. Chồng Thái Khắc Đông, con ông Thái Khắc Tụng xóm 8, Thịnh Sơn thuyền viên tàu biển Nghệ An, cư trú ở ngã 3 Diễn Châu
D7.11324.6 Dương Thị Hoà (1954 – 2019), không lấy chồng ở với bố mẹ

Con trai ông Dương Trọng Đôn D5.113.3:

D6.1133.1 DƯƠNG TRỌNG KIỀU (03/02/1925- 26/11/2007): thọ 83 tuổi. Cán bộ tiền khởi nghĩa. Đảng viên ĐCSVN năm 1946, huy hiệu 60 năm tuổi đảng. Bí thư, Chủ tịch Uỷ ban hành chính xã Thịnh Sơn, huyện ủy viên, Chánh văn phòng UBND huyện, Trưởng phòng Lao động UBND huyện Đô Lương. Chủ tịch Hội người cao tuổi xã Thịnh Sơn. Nghỉ hưu năm 1981. Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng 3; Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất; Huy chương vì sự nghiệp Đại đoàn kết toàn dân. Vợ NGUYỄN THỊ PHIẾU (09/1924- 24/9/2024 Giáp Thìn), người làng Lê, xã Tân Sơn, Đô Lương, con ông Ngưyến Tất Chiểu; Đảng viên ĐCSVN, Huy hiệu 75 năm tuổi đảng; BCH hội phụ nữ xã Thịnh Sơn, Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất. Có 7 con trai:
D7.11331.1 Dương Trọng Bảng
D7.11331.2 DƯƠNG TRỌNG ĐĂNG: sinh năm 1957 (Đinh Dậu). Trung úy, Sỹ quan lục quân, Liệt sỹ hy sinh ngày 06/3/1978 tại Biên giới Tây Nam (Campuchia). Tiểu đoàn 4, Trung Đoàn, 270, Sư đoàn 341 (số 4 Mộ số 1, Ấp Cờ Trắng, Hòa Điền TT Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Nghĩa Trang: 891 Mac Thị xã Rạch Giá, Kiên Giang, DT BQLNT 0773890286. Mộ chuyển về Nghĩa Trang chi tộc Can Phiên đập Khe Răm ngày 20/11/2000
D7.11331.3 Dương Trọng Khoa (1960 Canh Tý - 16/8/1966), tảo mệnh, mất lúc 7 tuổi do cảm hàn
D7.11331.4 Dương Trọng Đề
D7.11331.5 Dương Trọng Liệu
D7.11331.6 Dương Trọng Thắm
D7.11331.7 Dương Trọng Thiết

ĐỜI THỨ 7. PHÁI CHI CAN PHIÊN

Con trai ông Dương Trọng Phác D6.1131.1

D7.11311.1 DƯƠNG TRỌNG PHỚT (1903- 9/10/1989): thọ 87 tuổi. ĐVĐCS VN. Kế toán đội sản xuất. Dân công Thượng Lào kháng chiến chống Pháp. Huân chương Kháng chiến hạng II. Vợ: Thái Thị Đường (1905- 27/01/1995) thọ: 91 tuổi. Năm 1965 di dân lên Giang Sơn, Đô Lương cùng 02 con trai Dương Trọng Công, Dương Trọng Dũng. Năm 1988 đã quy tập mộ ông bà về nghĩa trang Chi Tộc Can Xiển. Có 3 trai, 4 gái:
D8.113111.1 Dương Trọng Mẫu
D8.113111.2 Dương Trọng Công
D8.113111.3 Dương Trọng Dũng
. D8.113111.4 Dương Thị Lân (1931- ), nghề nông. Chồng là Hoàng Trần Xi, quê xã Đặng Sơn, Đô Lương, trú quán tại xóm 6, xã Giang Sơn, huyện Đô Lương. Có 2 con trai: Hoàng Trần Lẫm (1969), bộ đội không quân và Hoàng Trần Lý (1963), nghề nông.
D8.113111.5 Dương Thị Nghĩa (1935-1978). Nghề nông. Chồng là Nguyễn Hoàng Vượng (1934- ), cán bộ Ngân hàng nhà nước, quê quán đội 11, xã Thịnh Sơn. Bị bệnh nghỉ hưu. Các con: Nguyễn Hoàng Lộc, sinh năm 1957, bộ đội, thương binh; Nguyễn Hoàng Sâm, sinh năm 1963, bộ đội phục viên năm 1989, ĐVĐCSVN; Nguyễn Hoàng Quy (1968); Nguyễn Thị Quế (1958) và Nguyễn Thị Hợi, nghề nông
D8.113111.6 Dương Thị Liên (1936- ), công nhân nông trường 1/5. Chồng Trần Tao, cán bộ miền nam tập kết. Năm 1975 về quê chồng Nông trường ĐơCrao, xã ChưBarông, huyện Chưbanga, tỉnh Đắc Lắc. Có 5 con gái: Trần Thị Hoà: Trần Thị Thuận, Trần Thị Thảo, Trần Thị Hiền: và Trần Thị Linh
D8.113111.7 Dương Thị Lan, sinh năm 1950. Công nhân Nhà máy gạch Cầu Đước. Chồng Lê Văn Nam, bộ đội lái xe, về hưu 1983. Quê đội 1, xã Hưng Đạo, Hưng Nguyên. Con: Lê Thị Phương (1982) (con riêng của bà Lan); Lê Văn Hoàng (1985) con riêng của chồng và con chung: Lê Thị Nhuần (1987)

Con trai ông Dương Trọng Trớc D6.1131.2

D7.11312.4 DƯƠNG TRỌNG ĐỨC (1940- 24/07/2025). Đi bộ đội năm 1960. Năm 1963 công tác tại Khu Gang thép Thái Nguyên. Năm 1966 học Luyện kim ở Liên Xô. Năm 1971 về Nhà máy Gang thép Thái Nguyên. Năm 1978 chuyển về Nhà máy VICASA Khu CN Biên Hoà- Tỉnh Đồng Nai. Năm 1993 về hưu cư trú tại Đồng Nai - TP Hồ Chí Minh. Vợ Nguyễn Thị Thảo (1946-2017) quê tỉnh Bắc Ninh, công nhân nhà máy gang thép Thái Nguyên. Con 2 trai 2 gái:
D8.113124.1 Dương Thị Hoà sinh năm 1972; Cử nhân tài chính. Chồng: Võ Tùng Linh, quê tại Tỉnh Hà Tĩnh
D8.113124.2 Dương Trọng Thuận
D8.113124.3 Dương Trọng Nam
D8.113124.4 Dương Thị Hiền (1996). Chồng Nguyễn Quốc Trưởng, quê TP Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai. Nghề Thương nghiệp

D7.11312.5 DƯƠNG TRỌNG NGỌ (5/05/1942): Năm 1959 đi bộ đội, lái xe pháo binh. Năm 1969 -1987 lái xe con tại Ty Tài Chính Nghệ Tĩnh, năm 1987 thôi việc về xã Giang Sơn- Đô Lương. Vợ: Lê Thị Tế (26/10/1944- 4/4/2025), quê quán xã Giang Sơn, nghề nông. Con 5 trai, 1 gái:
D8.113125.1 Dương Trọng Tuấn
D8.113125.2 Dương Trọng Tú
D8.113125.3 Dương Trọng Thu
D8.113125.4 Dương Trọng Đông
D8.113125.5 Dương Trọng Bắc
D8.113125.6 Dương Thị Huệ (02/1987). Tốt nghiệp cao đẳng Sư phạm Đà Lạt, hiện công tác tại tỉnh Đồng Nai

Con trai ông Dương Trọng Lục (Mỹ) D6.1132.2

D7.11322.1 DƯƠNG TRỌNG KỲ: (1923-1954): chết lúc 32 tuổi. Vợ Nguyễn Thị Diệu: quê xã Tân Sơn, Đô Lương. Ông Kỳ mất bà Diệu lấy ông Trần Ngọc Vân cán bộ miền nam tập kết, mất năm 1994. Bà Diệu sinh 5 trai 1 gái:
D8.113221.1 Dương Trọng Đào: (1945- 28/12/2016 AL)
D8.113221.2 Dương Thị Thanh (Diếu) (1947), công tác tại Sở Tài chính TP Hải Phòng. Chồng Đào Công Tính, quê Tân Sơn, Đô Lương. Trú quán quận Hông Bàng, TP Hải Phòng. Con: Đào Thị Thuỷ; Đào Thị Ngọc
D8.113221.3 Dương Thị Tiếu (1949). Y sỹ nghỉ hưu. Chồng Nguyễn Văn Quang quê Tăng Thành, Yên Thành, công nhân lâm trường. Con: Nguyễn Thị Hoà; Nguyễn Văn Hợp, Nguyễn Văn Công

D7.11322.2 DƯƠNG TRỌNG QUẾ (SÂM) (1927- 05/9/2009): thọ 83 tuổi. Bộ đội chống Pháp. ĐVĐCSVN. Huy hiệu 60 năm tuổi đảng. Đội trưởng đội sản xuất HTXNN xã Thịnh Sơn. Vợ Thái Thị Thăng (1929 - 3/1/2024), thọ 96 tuổi, thuộc dòng họ Thãi Doãn, quê quán: xã Thịnh Sơn. Có 3 con trai và 3 con gái:
D8.113222.1 Dương Trọng Thành
D8.113222.2 Dương Trọng Tâm
D8.113222.3 Dương Thị Tuyết
D8.113222.4 Dương Trọng Bốn
D8.113222.5 Dương Thị Năm
D8.113222.6 Dương Thị Sáu

Con trai ông Dương Trọng Ngọc (Đoàn) D6.1132.3

D7.11323.3 Nam thứ ba DƯƠNG TRỌNG YÊN (1932-2006):I, thọ 75 tuôi. ĐVĐCSVN. Thư ký UB hành chính xã, Chủ nhiệm HTX Nông nghiệp Thịnh Sơn. Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất. Vợ: Thái Thị Hiền (1930-2006) thuộc dòng họ Thái Doãn, xóm 7 xã Thịnh Sơn. Có 3 trai và 2 gái:
D8.113233.1 Dương Thị Hiền (1954)
D8.113233.2 Dương Trọng Lương (sinh 1959, đi bộ đội năm 1978, Liệt sỹ, hy sinh ngày 30/09/1978 (AL) tại chiến trường Lào. Mộ chí ở nghĩa trang Việt Lào Phúc Sơn- Anh Sơn, có bia tưởng niệm tại Nghĩa Trang Chi tộc Can Phiên
D8.113233.3 Dương Trọng Kim
D8.113233.4 Dương Trọng Tư
D8.113233.5 Dương Thị Năm

D7.11323.5 DƯƠNG TRỌNG ĐÔNG (1937): Đại học Thương mại. Công tác tại Bộ Thương mại. Thời bao cấp làm ở cửa hàng cung cấp cho cán bộ cao cấp phố Tôn Đản- Hà Nội. Năm 1992 về hưu, trú tại Khu Tập thể Nông trường An Khánh, thôn Tứ Đình, xã Long Biên, quận Gia Lâm, TP Hà Nội. Vợ: Phạm Thị Nghị (1947), quê quán xã Trưng Trắc, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. Y tá về hưu năm 1992. Sinh 1 trai và 2 gái:
D8.113235.1 Dương Trọng Hải
D8.113235.2 Dương Thị Thu Hà (1974)
D8.113235.3 Dương Thị Hồng Vân (1977)

Con trai ông Dương Trọng On D6.1132.4

D7.11324.1 DƯƠNG TRỌNG TRẠCH (1930- 24/10/2000): Đội trưởng đội sản xuất. Vợ Nguyễn Thị Trinh (1932- 18/3/2023), quê xã Tân Sơn - Đô lương. Có 4 gái và 1 trai là con nuôi:
D8.113241.1 Dương Thị Lý (1957-1996), bị bệnh thần kinh, chết đuối trên sông Đào
D8.113241.2 Dương Trọng Nam
D8.113241.3 Dương Thị Nga (1963- 4/2023)
D8.113241.4 Dương Thị Liên (1970)
D8.113241.5 Dương Thị Lan (1974)

Con trai ông Dương Trọng Kiều D6.1133.1

D7.11331.1 Trưởng nam DƯƠNG TRỌNG BẢNG (06/05/1953 Quý Tỵ). Năm 1970-1976 học Đại học Công nghiệp nhẹ Kiev- Ukraina- Liên Xô. Tốt nghiệp đại học Ngoại Thương HN 1986. Năm 1978 công tác tại Ty Ngoại Thương Nghệ-Tĩnh, năm 1987 Trưởng phòng kế hoạch Liên hiệp Công Ty ngoại Thương Nghệ Tĩnh. Năm 1990: Trưởng phòng kinh doanh Công ty Xuất nhập khẩu Nghệ An. Năm 1994-1998 Trưởng phòng kế hoạch Sở Thương Mại. Năm 1999-2002: Giám đốc Công ty đầu tư hợp tác kinh tế Việt Lào. Năm 2003 Trưởng phòng Kế hoạch Công ty CP Thương mại Nghệ An. Năm 2013 về hưu. Vợ đầu Lê Thị Chương (1957)- quê Hưng Thủy- TP Vinh, Giáo viên cấp 1 Nghi Phú. Li hôn tháng 2/2009. Có 1 gái, 01 trai:
D8.113311.1 Dương Minh Thuỷ (18/9/1980). Đại học Thương mại Hà Nội, chồng Nguyễn Minh Dương, quê Yên Sơn có 2 con trai Nguyễn Minh Duy (04/3/2007), Nguyễn Minh Khoa (14/11/2009). HKTT Hạ Đình- quận Thanh Xuân- TP Hà Nội
D8.113311.2 Dương Trọng Sơn (21/06/1982)
Năm 2009 lấy vợ 2: Phạm Thị Mai (24/10/1973), quê xã Nghi Phong, Nghi Lộc, cư trú tại xóm 18, xã Nghi Phú, TP Vinh, có 1 con trai Nguyễn Anh Sơn sinh năm 1994, là bộ đội biên phòng. 1 con chung:
D8.113311.3 Dương Quỳnh Chi (01/02/2010

D7.11331.4 DƯƠNG TRỌNG ĐỀ (1963 Quý Mạo): Sỹ quan lục quân I - Sơn Tây. Giáo viên trường quân chính quân khu 7 (TP Hồ Chí Minh), Đại uý. Năm 1991 chuyển về XN chế biến hàng xuất khẩu Bến Thuỷ (UNIMEX Nghệ An). Năm 2001: Trưởng Cữa hàng thương mại Công ty ĐTHTKT Việt Lào. Năm 2006 nghỉ chế độ 41, làm tại Công ty CP Tây An. Vợ: Phan Thị Giang (1986). Quê quán xóm Gia Còng, xã Tiên Kỳ, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An, đã li dị, có 2 con:
D8.113314.1 Dương Trọng Việt Hoàng (31/05/2008); bố mẹ ly dị ở với bố, phường Quán Bàu TP Vinh
D8.113314.2 Dương Trọng Đức Kiên (01/8/2014), bố mẹ ly dị ở với mẹ tại Tiên Kỳ, Tân Kỳ
Năm 2022 lấy vợ 2: Nguyễn Thị Bình, quê Thái Sơn, Đô Lương, có 1 con riêng Nguyễn Văn Dương

D7.11331.5 DƯƠNG TRỌNG LIỆU (1965-Ất Tỵ): Trung cấp thuỷ sản Hải phòng. Năm 1996- 2000 công tác tại Công ty DV thuỷ sản tây nam TP Hồ Chí Minh. Năm 2000 Phó Giám đốc Khách sạn Việt Lào. Năm 2005 làm việc tại Công ty CP Tây An. Năm 2005 cưới vợ: Nguyễn Thị Tuyết (24/11/1983), xóm 2, xã Hoà Sơn, Đô Lương con ông Nguyễn Văn Tiệm và bà Thái Thị Mười, con 1 trai 1 gái:
D8.113315.1 Dương Thị Bảo Hân (03/03/2006)
D8.113315.2 Dương Trọng Bảo Hưng (01/8/2010)

D7.11331.6 DƯƠNG TRỌNG THẮM (01/01/1968 Mậu Thân): Đi bộ đội nghĩa vụ. Phục viên, năm 1997 chuyển lên Quỳ Hợp làm trang trại. Năm ……cùng vợ Nguyễn Thị Diệp sinh năm 1968, chuyển về quê vợ xóm Tân Lâm, xã Thanh Lâm, huyện Thanh Chương; có 2 gái, 1 trai:
D8.113316.1 Dương Thị Thanh Trà (15/06/1993): lấy chồng Phùng Thanh Quang, con gái Phùng Khánh Vy (2020) và Phùng Minh Châu
D8.113316.2 Dương Thị Thuỳ Trang (20/07/1995), lấy chồng Nguyễn Anh Tuấn quê Thái Bình, con gái Nguyễn Dương Chi (2024)
D8.113316.3 Dương Trọng Tùng Lâm (18/10/2006)

D7.11331.7 DƯƠNG TRỌNG THIẾT (1971- Tân Hợi): Trung cấp Thương Nghiệp Năm 1993 làm việc tại Công Thương mại Dịch vụ Nghệ An. Năm 1998 tốt nghiệp Đại học QTKD. Năm 2000 cán bộ Công ty Xây lắp TH XNK Nghệ An. Ngày 22/02/2005 thành lâp Công ty CP Tây An là Chủ tich HĐQT kiêm Giám đốc. Năm 2022 là Chủ tích HĐQT tập đoàn Bắc Miền Trung. Có nhiều đóng góp tôn tạo Lăng Tổ Cô, Nhà thờ Chi, Nhà thờ Họ Dương và Nghĩa Trang chi Can Phiên. Vợ đầu Đặng Thị Đào (1973). Quê quán xã Phúc Sơn, Anh Sơn, con ông Đặng Duy Nam, học Trung cấp Thương Nghiệp. Kinh doanh hàng may mặc Chợ Vinh, sau đó đi Úc theo diện bảo hộ con gái đi học. Vợ hai: Vụ Thị Hà, quê quán Quỳnh Lưu, làm việc tại Tập Đoàn BMT Sinh các con:
D8.113317.1 Dương Trọng Hoàng Minh, sinh 31/01/1995
D8.113317.2 Dương Trọng Hoàng Anh, sinh 25/10/1997
D8.113317.3 Dương Thị Thục Hiền (16/01/2003)
D8.113317.4 Dương Quỳnh Nhi (24/7/2019), con vợ hai
D8.113317.5 Dương Trọng Chí Thanh, sinh 21/8/2021, con vợ hai 30/07
D8.113317.6 Dương Vũ Thanh Thảo (15/04/2024), con vợ hai

ĐỜI THỨ 8. PHÁI CHI CAN PHIÊN

Con trai ông Dương Trọng Phớt D7.11311.1

D8.113111.1 DƯƠNG TRỌNG MẪU (1928- 23/3/2024): thọ 97 tuổi. Năm 1945 tham gia du kích chống Pháp. Năm 1947 vào bộ đội tham gia hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Về hưu năm 1978, cấp hàm đại uý, ĐVĐCS VN năm 1949. Huân chương chiến thắng hạng 3; Huân chương kháng chiến chống Pháp hạng 1, Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất và Huận chương chiến sỹ vẻ vang hạng 1,2,3. Vợ Thái Thị Tân (10/1929 -16/7/2018) thọ 90 tuổi. ĐCSVN, UV BCH phụ nữ xã, Bí thư chi bộ. Huân chương chống Pháp hạng 2. Huân chương chống Mỹ hạng nhì. Có 02 gái và 2 trai:
D9.1131111.1 Dương Thị Xuân (9/1957), Trung cấp thuỷ lợi, Công tác: Công ty Thuỷ nông Nghệ An. Chồng là Lê Đình Du, quê Văn Sơn, Đô Lương, Nghệ An là cán bộ Tổng cục Đường sắt. Có 3 con là: Lê Đình Sơn (1980); Lê Đình Hà (1982) và Lê Đình Hưng (1985)
D9.1131111.2 Dương Thị Châu (22/03/1961). Chồng là Thái Đình Nhật, quê xóm 4, xã Thịnh Sơn, đại uý công an huyện Yên Thành. Năm 2006 bị tai nạn xe máy. Năm 2008 nghỉ hưu. Có 4 con: Thái Thị Loan (1982); Thái Đình Cường (1984), Thái Thị Ngọc (1987) và Thái Thị Minh (1991)
D9.1131111.3 Dương Trọng Tuấn (Anh Tuấn)
D9.1131111.4 Dương Trọng Toản

D8.113111.2 DƯƠNG TRỌNG CÔNG. (1942- 19/05/2020): Đi bộ đội năm 1964. Năm 1971 phục viên, cư trú tại xã Giang Sơn, Đô Lương. Huân chương kháng chiến hạng 2. Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng hai. Vợ: Thái Thị Tuyết, sinh năm (1942- 2024), quê quán xã Thịnh Sơn. Công nhân nông trường Đội Cung, năm 1966 nghỉ việc về quê. Có 1 trai và 3 gái:
D9.1131112.1 Dương Thị Nhung (1968). Chồng là: Trần Văn Minh, nghề nông. Có 4 con: Trần Văn Hoàn (1987); Trần Văn Thông (1990); Trần Văn Luân, (1994); Trần Văn Lương (1992)
D9.1131112.2 Dương Trọng Sỹ, sinh 01/12/1976
D9.1131112.3 Dương Thị Dung (1979). Chồng Nguyễn Đăng Dương, quê xóm 3, xã Nhân Sơn, Đô Lương
D9.1131112.4 Dương Thị Nhàn (1981), nghề nông. Chồng Phạm Văn Bình, quê đội 7 xã Giang Sơn, nghề nông. Con: Phạm Thị Mơ, Phạm Thị Loan, Phạm Thj Ly

D8.113111.3 DƯƠNG TRỌNG DŨNG. Sinh năm 1946: Năm 1967 đi bộ đội, năm 1971 bị thương giải ngũ, cư trú tại đội 7, xã Giang Sơn, huyện Đô Lương. Thương binh 2/4. Vợ: Bùi Thị Xoan, sinh năm 1944, quê quán xã Nam Thượng, Nam Đàn. Công nhân Xí nghiệp Dược phẩm Nghệ An. Có 2 trai và 3 gái:
D9.1131113.1 Dương Thị Hoa (1969); Công nhân bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ. Chồng Nguyến Văn Hợi, quê xã Giang Sơn, Đô Lương. Bộ đội lái xe sân bay Trà Nóc, Cần Thơ. Con: Nguyễn Thị Thảo, Nguyễn Thị Phương Linh
D9.1131113.2 Dương Trọng Hùng (sinh 15/10/1971)
D9.1131113.3 Dương Thị Thu (1973); CN XN Đông Lạnh KATA Cần Thơ, chồng Phạm Văn Hải, bộ đội, lái xe vận tải QK 9, quê Nghi Phong, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
D9.1131113.4 Dương Trọng Thành
D9.1131113.5 Dương Thị Hương sinh năm 1980; Công nhân xí nghiệp đông lạnh PATARDA- TP Cần Thơ

Con trai ông Dương Trọng Đức D7.11312.1

D8.113121.2 DƯƠNG TRỌNG THUẬN (1976): Cử nhân. Vợ: Phạm Thị Lan Hương (1979) quê Vũng Tàu, có 2 con:
D9.1131212.1 Dương Trọng Khang (…………….)
D9.1131212.2 Dương Ngọc Gia Thanh (2009)

D8.113121.3 DƯƠNG TRỌNG NAM ( /…/1980. Vợ: Thái Mỹ Trang

Con trai ông Dương Trọng Ngọ D7.11312.2

D8.113122.1 DƯƠNG TRỌNG TUẤN ( 11/11/1970): Nghề nông, vợ Nguyễn Thị Tám (1971). Quê xã Giang Sơn, Đô Lương. Có 2 con:
D9.1131221.1 Dương Trọng Cường, sinh 19/8/1992
D9.1131221.2 Dương Thị Hoa sinh 05/11/1995

D8.113122.2 DƯƠNG TRỌNG TÚ: (07/1971- 20/8/2022):. Công tác tại Nhà máy luyện thép VICASA TP Đồng Nai, Biên Hoà. Vợ: Nguyễn Thị Hòa (1980). Quê quán: xã Thanh Lâm, Thanh Chương, có 2 con:
D9.1131222.1 Dượng Trọng Bảo (…………….)
D9.1131222.2 Dượng Ngọc Anh (…………….)

D8.113122.3 DƯƠNG TRỌNG THU (sinh 20/9/1974): Nghề nông. Vợ: Đảo Thị Tùng (1976). Quê quán: xã Giang Sơn, Đô Lương. Có 2 con:
D9.1131223.1 Dương Trọng Lý. Sinh 14/4/1996
D9.1131223.2 Dương Thị Hoài. Sinh 10/4/1998
D9.1131223.3 Dương Quỳnh Nga. Sinh 27/9/2013
D9.1131223.4 Dương Quỳnh Trang. Sinh 27/9/2013 (sinh đôi)

D8.113122.4 DƯƠNG TRỌNG ĐÔNG (sinh /07/1977): Vợ: Đoàn Thị Thơm, quê Nam Định, có 1 con:
D9.1131224.1 Dương Trọng Huy (…………….)

D8.113122.5 DƯƠNG TRỌNG BẮC (sinh………1980): Nghề nghiệp: Vợ: Bùi Thị Ngọc Hằng (sinh /… /1980. Quê quán: TP Hải Phòng
D8.1131225.1 Dương Thị Ngọc Hà: sinh 2006

Con trai ông Dương Trọng Kỳ D7.11322.1

D8.113221.1 DƯƠNG TRỌNG ĐÀO (1945- 28/12/2017): Vợ Nguyễn Thị Hoạt (1956). Quê Yên Thành, có 4 con:
D9.1132211.1 Dương Trọng Hùng (con bà đầu ở Thanh Hoá)
D9.1132211.2 Dương Trọng Trung (con bà Hoạt)
D9.1132211.3 Dương Trọng Hiếu (con bà Hoạt)
D9.1132211.4 Dương Thị Hiền. Con bà Hoạt lấy chồng Hải Phòng có 2 gái 1 trai.

Con trai ông Dương Trong Quế (Sâm) D7.11322.2

D8.113222.1 DƯƠNG TRỌNG THÀNH (01/12/1957): Đại học quân y, công tác tại Bệnh viện quân đội 103 và Bệnh viện đa khoa Quỳ Hơp. Vợ Đăng Thị Nga (1/7/1966), quê Hưng Nguyên. Có 2 con:
D9.1132221.1 Dương Trọng Tuấn (10/02/1988)
D9.1132221.2 Dương Thị Tú (15/2/1994): công tác tại Bệnh viện đa khoa TP Vinh, Khoa răng hàm mặt

D8.113222.2 DƯƠNG TRỌNG TÂM (25/12/1960): Đại tá Bộ đội đặc công, đã nghỉ hưu. Vợ Nguyễn Thị Hà, sinh 1966, có 2 con:
D9.1132222.1 Dương Thị Nguyệt (1991); kế toán, chồng làm ngân hàng quê Anh Sơn, trú quán tại Hà Nội
D9.1132222.2 Dương Thị Hằng (1996), nghề nghiệp giáo viên, làm việc tại Hà Nội

D8.113222.4 DƯƠNG TRỌNG BỐN (15/2/1967): vợ Thu Thị Liên (1972), quê Đặng Sơn, Đô Lương, có 2 con:
D9.1132224.1 Dương Trọng Phúc (10/8/1994)
, bộ đội D9.1132224.2 Dương Trọng Lộc (20/3/1996)

Con trai ông Dương Trọng Hiền D7.11323.3

D8.113233.3 DƯƠNG TRỌNG KIM, Trưởng nam ( 3/3/1963): lái xe. Vợ Thái Thị Lý (20/2/1965), quê Hà Tĩnh, có 2 con:
D9.1132333.1 Dương Trọng Quyết (20/02/1991)
D9.1132333.2 Dương Thị Trang ( 12/10/1993), công tác tại Hà Nội

D8.113233.4 DƯƠNG TRỌNG TƯ: sinh năm 5/8/1966: chủ Doanh nghiệp khai thác chế biến đá Quỳ Hợp, có nhiều đóng góp tôn tạo Lăng Tổ Cô, Nhà thờ và Nghĩa Trang chi Can Phiên. Vợ Võ Thị Hương Trà (1980). Các con:
D9.1132334.1 Dương Thị Phương Thảo (24/10/2005)
D9.1132334.2 Dương Trọng Đức (21/1/2024)

Con trai ông Dương Trọng Đông D7.11323.5

D8.113235.1 DƯƠNG TRỌNG HẢI ( ……….1972): vợ Nguyễn Thị Kim Thu (1972), có 2 con: Trú quán, huyện Đông Anh- TP Hà Nội
D9.1132351.1 Dương Thị Thu Thảo
D9.1132351.2 Dương Thị Minh Anh
D9.1132351.3 Dương Trọng Huy

Con trai ông Dương Trọng Trạch D7.11324.1

D8.113241.2 DƯƠNG TRỌNG NAM con nuôi (20/10//1960): bị mù. Vợ ………..Lan. Trú quán xóm 8, Thịnh Sơn. Các con:
D9.1132412.1 Dương Thị Mai (2002), lấy chống về tỉnh Bắc Ninh
D9.1132412.2 Dương Trọng Quyền

Con trai ông Dương Trọng Bảng D7.11331.1

D8.113311.2 DƯƠNG TRỌNG SƠN (21/06/1982: Vợ Nguyễn Thị Long (1986), quê Nghi Trung, Nghi Lộc, kế toán bán hàng doanh nghiệp, con:
D8.1133112.1 Dương Kỳ Duyên (19/06/2008)
D8.1133112.2 Dương Cát Tường (08/02/2011)
D8.1133112.3 Dương Trọng Đạt (22/01/2022)

Con trai ông Dương Trọng Đề D7.11331.4

D8.113314.1 DƯƠNG TRỌNG VIỆT HOÀNG (31/05/2008): bố mẹ li dị, ở với bố tại phường Quán Bàu, TP Vinh

D8.113314.2 DƯƠNG TRỌNG ĐỨC KIÊN (01/8/2014): bố mẹ ly dị ở với mẹ tại xã Tiên Kỳ, huyện Tân Kỳ

Con trai ông Dương Trọng Liệu D7.11331.5

D8.113315.1 DƯƠNG TRỌNG BẢO HƯNG (01/8/2010):

Con trai ông Dương Trọng Thắm D7.11331.6

D8.113316.3 DƯƠNG TRỌNG TÙNG LÂM (18/10/2006):

Con trai ông Dương Trọng Thiết D7.11331.7

D8.113317.1 DƯƠNG TRỌNG HOÀNG MINH (31/1/1995): Đại học Ngoại Thương. Vợ Phạm Thị Phương quê TP Nam Định, công tác tại khoa Hoá Viện hàn lâm khoa học Việt Nam, lấy chồng chuyền về Bệnh viện YH cố truyền Nghệ An, có 2 con:
D9.1133171.1 Dương Trọng Đức Trí
D9.1133171.2 Dương Trọng Minh Quang 31/07/2023

D8.113317.2 DƯƠNG TRỌNG HOÀNG ANH (25/10/1997): Vợ Lê Thị Thanh (sinh 1998) quê Hưng Bình, TP Vinh; Con:
D9.1133172.1 Dương Trọng Ngọc Khang, sinh 01/11/2019
D9.1133172.2 Dương Ngọc Khả Như, sinh 08/10/2020

D8.113317.5 DƯƠNG TRỌNG CHÍ THANH (30/07/2021);

ĐỜI THỨ 9. PHÁI CHI CAN PHIÊN

Con trai ông Dương Trọng Mẫu D8.113111.1

D9.1131111.3 DƯƠNG TRỌNG TUẤN (ANH TUẤN): sinh 24/4/1964: Bộ đội biên giới phía Bắc, năm 1986 phục viên, về công tác tại Thương Nghiệp huyện Kỳ Sơn, năm 1999 làm cán bộ tư pháp Thị trấn Mường Xén, vợ Nguyễn Thị Nhã (sinh 20/4/1962), bộ đội phục viên lập nghiệp tại thị trấn Mường Xén, Kỳ Sơn, có 4 con:
D10.11311113.1 Dương Thị Kiều Trang (7/5/1990), lấy chồng là Lữ Pu Duy sinh 1980, người dân tộc Thái, công an huyện Kỳ Sơn;
D10.11311113.2 Dương Thị Hoài Thanh (28/9/1991), chồng Hoàng Quốc Hoành, sinh 1987, con Dương Thị Minh Ánh sinh 11/10/2019
D10.11311113.3 Dương Thị Thuý Hằng (10/11/1995), chồng Lê Anh sinh 1989, quê Quảng Trị, sống ở Cây Chanh, Anh Sơn, nay cư trú tại TP Hà Nội
D10.11311113.4 Dương Trọng Quang Trung (2/10/1997)

D9.1131111.4 DƯƠNG TRỌNG TOẢN (15/5/1975): Lái xe Công ty ĐTHTKT Việt Lào, Vợ Thái Thị Hạnh (12/10/1987) quê xóm 6, Thịnh Sơn, có 2 con:
D10.11311114.1 Dương Thị Quỳnh Nga (02/7/2009)
D10.11311114.2 Dương Thị Quỳnh Hương (04/7/2011)
D10.11311114.3 Dương Trọng Đại

Con trai ông Dương Trọng Công D8.113111.2

D9.1131112.2 DƯƠNG TRỌNG SỸ (31/2/1976): nghề mộc, nơi ở xóm 4, xã Giang Sơn, Đô Lương. Vợ: Trần Thị Hồ (30/2/1979). Quê quán, Giang Sơn Đông, huyện Đô Lương. Các con:
D10.11311122.1 Dương Trọng Thắng, sinh 2003
D10.11311122.2 Dương Trọng Lợi, sinh 2005

Con trai ông Dương Trọng Dũng D8.113111.3

D9.1131113.1 DƯƠNG TRỌNG HÙNG- sinh 1971: quê xóm Xuân Thịnh, xã Giang Sơn Đông, huyện Đô Lương. Vợ Phạm Thị Lành, sinh năm 1971, có 2 con:
D10.11311131.1 Dương Thị Hiền (3/1996); lấy chồng về Tây Thành, Yên Thành
D10.11311131.2 Dương Trọng Đạt sinh 7/2001

D9.1131113.4 DƯƠNG TRỌNG THÀNH (1976): quê xóm Xuân Thịnh, xã Giang Sơn Đông, huyện Đô Lương. Vợ Nguyễn Thị Phương, sinh 1978, có 2 con:
D10.11311134.1 Dương Trọng Thanh
D10.11311134.2 Dương Trọng Nguyên

Con trai ông Dương Trọng Thuận D8.113121.2

D9.1131212.1 DƯƠNG TRỌNG KHANG (2006)

Con trai ông Dương Trọng Tuấn D8.113122.1

D9.1131221.1 DƯƠNG TRỌNG CƯỜNG (11/1992): Vợ Nguyên Thị Tâm sinh 19/8/1992, con:
D10.11312211.1 Dương Trọng Phúc, sinh 2014
D10.11312211.2 Dương Trọng Mạnh, sinh 1/6/2016

Con trai Dương Trọng Tú D8.113122.2

D9.1131222.1 DƯƠNG TRỌNG BẢO (2006)

D9.1131222.2 Dượng Ngọc Anh (……….)

Con trai Dương Trọng Thu D8.113122.3

D9.1131223.1 DƯƠNG TRỌNG LÝ: sinh 14/04/1996, vợ Đặng Thị Anh, sinh 20/11/1998), con:

D9.11312231.1 Dương Bảo Châu sinh 27/10/2022
D9.11312231.2 Dương Trọng Quang sinh 02/11/2024
Con trai Dương Trọng Đông D8.113122.4

D9.1131224.1 DƯƠNG TRỌNG HUY, (2008)

Con trai ông Dương Trọng Đào D8.113221.1

D9.1132211.1 DƯƠNG TRỌNG HÙNG (22/12/1974) con bà đầu ngoài giá thú: Lê Thị Hường sinh năm 1948, quê quán đội 10, xã Hợp Lý, huyện Thiệu Sơn, Thanh Hóa. Trú quán khối 6, Thị trấn Quỳ Hợp, Nghệ An. Vợ Nguyễn Thị Vân sinh năm 1969. Các con:
D10.11322111.1 Dương Trọng Nghĩa
D10.11322111.2 Dương Trọng Đức

D9.1132211.2 DƯƠNG ANH TRUNG (13/01/1977) con bà Hoạt, Vợ đầu Thiện, vợ 2 Đinh Thị Vui sinh 1/1/1995, quê quán khối 6 Thị trấn Qùy Hợp, các con:
D10.11322112.1 Dương Thị Ngọc Ánh, sinh 04/9/2001, con vợ đầu
D10.11322112.2 Dương Trần Phương Anh, sinh 23/11/2007, con vợ hai
D10.11322112.3 Dương Anh Phong (07/10/2017), con vợ hai
D10.11322112.4 Dương Đình Anna (17/12/2019), con vợ hai
D10.11322112.5 Dương Thảo My (30/07/2023), con vợ hai

D9.1132211.3 DƯƠNG TRỌNG HIẾU (1979): con bà Hoạt, làm thợ máy tàu biển CT vận tải dầu khí Vũng Tàu, vợ ….............Hải, quê TT Quỳ Hợp, Trú quán: phường Vinh Tân, Tp Vinh
D10.11322113.1 Dương Phương Thảo (27/08/2008)
D10.11322113.2 Dương Anh Quân

Con trai ông Dương Trọng Thành D8.113222.1

D9.1132221.1 DƯƠNG TRỌNG TUẤN (1988): lao động tại Đài Loan, nay làm tại Tp Hồ Chí Minh;

Con trai ông Dương Trọng Bốn D8.113222.4

D9.1132224.1 DƯƠNG TRỌNG PHÚC (10/8/1994): Trung cấp thông tin, thiếu úy bộ đội đặc công, vơ Nguyễn Thị Thuý Hằng sinh 1993

D9.1132224.2 DƯƠNG TRỌNG LỘC (20/3/1996): Trung úy, bộ đội hậu cần, quân khu 2 (Yên Bái), vợ Nguyễn Thị Hoàng Ánh sinh 1996

Con trai ông Dương Trọng Kim D8.113233.3

D9.1132333.1 DƯƠNG TRỌNG QUYẾT (1991): công tác tại Qùy Hợp, vợ Đào Thị Thanh Hoa sinh 1991, Bác sỹ TT Y tế dự phòng Đô Lương, các con:

D10.11323331.1 Dương Quỳnh Chi (2019); D10.11323331.1 Dương Trọng Khôi (2025);
Con trai ông Dương Trọng Tư D8.113233.4

D9.1132334.2 DƯƠNG TRỌNG ĐỨC (21/1/2024)

Con trai ông Dương Trọng Hải D8.113235.1

D9.1132351.3 DƯƠNG TRỌNG HUY ( / )

Con trai ông Dương Trọng Nam D8.113241.2

D9.113241.2 DƯƠNG TRỌNG QUYỀN ( /1995): xuất khẩu lao động Nhật Bản;

Con trai ông Dương Trọng Sơn D8.113311.2

D9.1133112.3 DƯƠNG TRỌNG ĐẠT (22/1/2022)

Con trai Dương Trọng Hoàng Minh D8.113317.1

D9.1133171.1 DƯƠNG TRỌNG ĐỨC TRÍ (29/5/2019)

D9.1133171.2 DƯƠNG TRỌNG MINH QUANG (31/07/2023)

Con trai ông Dương Trọng Hoàng Anh D8.113317.2

D9.1133172.1 DƯƠNG TRỌNG NGỌC KHANG (01/11/2019)

Đời thứ 10. Phái Chi Can Phiên

Con trai Dương Trọng Tuấn D9.1131111.3

D10.11311113.4 DƯƠNG TRỌNG QUANG TRUNG (2/10/1997): vợ đầu Trần Thị Trang sinh 1998, TP Sài Gòn, con:
D11.113111134.1 Dương Thị Minh Anh (14/10/2019)

Con trai Dương Trọng Toản D9.1131111.4

D10.11311114.3 DƯƠNG TRỌNG ĐẠI, ( 28/5/2015)

Con trai Dương Trọng Sỹ D9.1131112.2

D10.11311122.1 DƯƠNG TRỌNG THẮNG (12/10/2005);

D10.11311122.2 DƯƠNG TRỌNG LỢI (20/11/2007)

Con trai Dương Trọng Hùng D9.1131113.1

D10.11311131.2 DƯƠNG TRỌNG ĐẠT (/7/2021): làm nghề cơ khi. Vợ Đậu Thị Hoài Phương. Con:
D11.113111312.1 Dương Trọng Hoài Đăng, sinh 12/2024

Con trai Dương Trọng Thành D9.1131113.4 (con ông Dũng)

D10.11311134.1 DƯƠNG TRỌNG THANH (2003);

D10.11311134.2 DƯƠNG TRỌNG NGUYÊN (20/11/2007)

Con trai ông Dương Trọng Khang D9.1131212.1 (con ông Thuận)

D10.11312121. DƯƠNG TRỌNG…………

Con trai ông Dương Trọng Cường D9.1131221.1

D10.11312211.1 DƯƠNG TRỌNG……

Con trai Dương Trọng Bảo D9.1131222.1

D10.11312221. DƯƠNG TRỌNG

Con trai Dương Trọng Lý D9.1131223.1

D10.11312231. DƯƠNG TRỌNG

Con trai Dương Trọng Huy D9.1131224.1

D10.11312241. DƯƠNG TRỌNG

Các con Dương Trọng Hùng D9.1132211.1

D10.11322111.1 DƯƠNG TRỌNG NGHĨA (16/6/2003)

D10.11322111.2 DƯƠNG TRỌNG ĐỨC (22/2/2008)

Con trai ông Dương Trọng Trung D9.1132211.2

D10.11322112.3 DƯƠNG ANH PHONG, (07/10/2018)

D10.11322112.4 DƯƠNG ………………..

Con trai ông Dương Trọng Hiếu D9.1132211.3

D10.11322113.1 DƯƠNG …………………….;

D10.11322113.2 DƯƠNG ANH QUÂN (09/11/2015)

Con trai ông Dương Trọng Tuấn D9.1132221.1
Con trai ông Dương Trọng Phúc D9.1132224.1
Con trai ông Dương Trọng Lộc D9.1132224.2
Con trai ông Dương Trọng Quyết D9.1132333.1
Con trai ông Dương Trọng Huy D9.1132351.3 (con ông Đông)

Cập nhật 17/8/2025

Dương Trọng Bảng hậu duệ Can Phiên đời thứ 8

Ghi chú:

1. Các chức danh của các bậc tiên tổ thời Phong kiến thuộc Pháp trước năm 1945
- Về chức danh quản lý làng xã: Từ thời nhà Nguyễn (1824- 1883) sau khi Vua Gia Long thống nhất đất nước, chính quyền trung ương chỉ quản cấp phủ và huyện, trao quyền cai tổng, phó tổng do các làng bầu. Năm 1904, thực dân Pháp tổ chức “Ban Hội Tề” (còn gọi là Hội đồng làng) có các chức vụ: Hương cả, Hương chủ, Hương sư, Hương trưởng, Hương chánh, Hương giáo, Hương quản, Hương bộ, Hương thân, Xã trưởng, Hương hào…Ở Trung Kỳ, năm 1942, Triều đình Huế thành lập Hội đồng Kỳ hào, cơ quan chấp hành là Lý trưởng, Phó lý, Ngũ hương. Bộ máy quản lý làng, xã: Chánh hội, Phó hội, Lý trưởng, Khán thủ, Trương tuần, Phó lý, chưởng bạ, trị bạ, hộ lại; thư ký, thủ quỹ do dân bầu, không do quan trên bổ nhiệm;
- Phường: là tổ chức phường nghề như Phường vải, Phường nề, phường mộc,
- Hội tư văn: là môt tổ chức xã hội của kẻ sỹ dân quê học chữ nho, có các chức danh Hội trưởng, Điển văn, Tả văn do hội bầu chọn
- Hội hương binh: là hội các cựu chiến binh làng, xã đứng đầu là Hội trưởng
- Giáp: Là hội dựa trên quan hệ tuổi tác, tiến thân bằng tuổi tác, gọi là “Xí tác” theo nguyên tắc “trọng xí” được năng dần theo tuổi tác, như già làng ở các dân tộc miền núi
2. Tham khảo các đia danh thời Pháp thuộc trong Gia phả bản chữ Hán
Theo sách Tên làng xã Việt Nam đầu thế ký XIX, danh xưng Đô Lương có từ năm 1831. Đô Lương là một Tổng thuộc huyện Nam Đường, phủ Anh Đô. Phủ Anh Đô gồm có 2 huyện: Nam Đường và Hưng Nguyên. Huyện Nam Đường: gồm có 8 tổng, 90 xã, thôn, phường, trại, sách, giáp, vạn, đó là:
- Tổng Đô Lương gồm 24 xã, thôn, giáp:
+ Đô Lương (xã): thôn Cẩm Hoa Thượng, thôn Cẩm Hoa Đông, giáp Nghiêm Thắng, giáp Duyên Quang, thôn Đông Trung, thôn Hoa Viên, thôn Phúc Thị.
+ Đại Tuyền (xã): thôn Phúc Thọ, Đông Am, giáp Trung An, thôn An Thành
+ Bạch Đường: thôn Nhân Trung, thôn Phúc Tuyền, thôn Phúc An, thôn Nhân Bồi, thôn Miếu Đường.
+ Diêm Trường: thôn An Tứ, Bỉnh Trung, Chấp Trung
+ Phường Thiên Lý, thôn Vĩnh Trung, phường Hồng Hoa, phường Duy Thanh.
- Tổng Lãng Điền: Xã Lãng Điền, Mặc Điền, Tào Nguyên, thôn Vạn Hộ, Cấm An, An Lương, vạn Lãng Điền, Mặc Điền, sách Tào Giang.
- Tổng Thuần Trung: gồm các thôn: Thuần Trung, Tràng Bộc, Yết Nghi, Phật Kệ, Sơn La
- Tổng Bạch Hà: Xã Bạch Hà, Nhân Luật, Lưu Sơn, Thanh Thủy, Đào Ngoã.
- Tổng Non Liễu: 20 xã, thôn, giáp: Non Liễu, Yên Lạc, Thanh Tuyền, Non Hồ, Vân Đồn, Chung Giáp, Thượng Hồng (thôn).
- Tổng Lâm Thịnh; - Tổng Đại Đồng; - Tổng Hoa Lâm

BẢNG VÀNG GHI CÔNG

ĐÓNG GÓP XÂY DỰNG TỪ ĐƯỜNG PHÁI CHI CAN PHIÊN

Nhà thờ Chi can Phiên là đất hương hỏa của các con cháu Can Phiên, khởi thủy là ngôi nhà gỗ 1 gian hai hai hồi lợp ngói âm dương nằm trong khuôn viên đất sử dụng chung của ông Dương Trọng Phác sau này là trưởng nam Dương Trọng Mẫu. Đến nhứng năm 1956-1957 vào giai đoạn cải cách ruộng đất, các nhà thờ đình chùa bị phá hủy, chi tộc đã bán nhà thờ. Trong những năm 1975 - 1990 chi tộc thờ phụng tổ tiên trong nhà thờ của ông Dương Trọng Mậu

Năm 2000 anh em trong chi tộc đóng góp xây 1 nhà thờ 1 gian 2 hồi bằng gỗ phía đông khuôn viên đất của ông Dương Trọng Mậu. Trong việc xây dựng nhà thờ họ giai đoạn này có sự đóng góp của ông Dương Trọng Đức và ông Dương Trọng Đào

Đến năm 2010, với sự thống nhất cao của chi tộc có sự đóng góp lớn của ông Dương Trọng Thiết, Dương Trọng Tư và Dương Trọng Tuấn. Riêng ông Tuấn góp một phần bằng tiền, có đóng góp bằng đất quy ra bằng tiền là 200 triệu đồng với diện tích 200 m2 đất ( rộng 14 m và sâu 18m), công trình được hoàn thành vào năm 2011.

Sau đây là sự đóng gọp của các cá nhân trọng Chi tộc:
- Dương Trọng Thiết: 400.000.000 đồng;
- Dương Trọng Tư: 400.000.000 đồng và Tắc môn bằng đá trắng tự nhiên Quỳ Hợp;
- Dương Trọng Tuấn: 200.000.000 đồng và 200 m2 đất vườn;
- Dương Trọng Đức: Com bo bộ lư hương bằng đồng

(Đang tiếp tục cập nhật)

Thứ Hai, 22 tháng 3, 2021

BẢN DỊCH CHỮ NHO GIA PHẢ HỌ DƯƠNG SANG CHỮ QUỐC NGỮ

BẢN CHỮ NHO: 楊 仲 家譜日曆

Bản chữ nho “Dương Trọng lịch thế gia phả” do các bậc tiền bối trong họ tộc thông thạo chữ Nho ghi chép trước năm 1945 thời kỳ phong kiến thuộc Pháp. Cửa Giáp Chi Trưởng có cụ Dương Trọng Xân (1882-1937) con thứ cụ Phó Tiệp (Phó Bảng) là thầy Xân dạy chữ Nho khởi xướng viết gia phả. Cụ Dương Trọng Khoan (thầy Mày) ở Cửa Giáp có biết chữ nho nhưng mất sớm, gửi con Dương Trọng Lạc cho ông ngoại Bang Hiên ăn học, thông hiểu chữ nho viết tiếp. Thời gian này ông Trọng Tỏng em ruột ông Trọng Khoan lên làm Tộc trưởng để phụng tự, quản lý ruộng đất hương hoả và lưu giữ bản Gia phả chữ nho đầu tiên. Thời kỳ Cải cách ruộng đấtt (1950-1955), Dương Trọng Tạo con ông Tỏng là phú nông cất giấu gia phả sợ bị đội “Cải cách Ruộng đất” trịch thu. Sau này con ông Tạo là ông Tâm Tuyền (1923 - 2004) đi bộ đội Nam Tiến từ năm 1946 về quê tìm thấy bản Gia phả chữ nho trên mái nhà do cha mình cất dấu và được lưu truyền lại cho đến nay tại Trưởng Tộc đại tôn

Năm 1995 ông Dương Quốc Bắc Tộc trưởng đời thứ 9 nhờ ông Dương Trọng Dật nguyên chủ tịch UBHC tỉnh Nghệ An là một người con cùng chung thê tổ nguyên quán ở Cao Hương, Thiện Bản. Nam Định nay là xã Liên Bảo huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định dịch Bản gia phả từ tiếng hán sang tiếng Việt

BẢN DỊCH CHỮ QUỐC NGỮ GIA PHẢ HỌ DƯƠNG

(Tr.1)

Nguyên quán ngã tổ họ Dương: Tỉnh Nam Định, phủ Nghĩa Hưng, huyện Thiện Bản, xã Cao Hương, thôn Giáp.

Tám đời trước: nhà ở Bản Quán, sau chuyển sang Lãng Điền phường.

Đời tổ thứ 6: lại quay về Bản Quán, con cháu tụ hội đông đúc phát triển ở đất đó

Cao tổ Dương Công Sùng: tự Bảo Dung Tiền triều Mạc Đại Chính Ất tỵ khoa, đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân Hưng Hoá đạo, Thừa tuyên xứ, tán trị Thừa chính sứ ty, Hình bộ tả thị lang, Diên hà Bá, tự Ngọc Xân, thuỵ Văn Ý Dương tướng công

Thượng tổ Thiên Nam đạo, Hoằng tín đại phu, Chiêu văn quán, nho sinh Dương Tiên Sinh: Tổ bà nhu nhân thần vị, Đại phú thanh hình, kiến ty quan kiêm nho sinh học sỹ, người bản tộc Cao Hương tên là Cố, ở đạo Thiên Nam cũ, có đền thờ ở Cao Huơng

Tiền Lê triều Quốc Tử Giám, giám sinh Dương quý công, tự Trọng Miễn: tiên sinh, cụ tổ bà nhu nhân thần vị

Lê triều Thái Hoà Quốc Tử Giám, giám sinh Dương quý công tên chữ Cẩn Định: tiên sinh, cụ tổ bà nhu nhân thần vị. Nguyên hai Tiên sinh (Trọng Miễn và Cẩn Định) qua bao đời xa xưa không rõ sự tích. Đến triều Tự Đức vào năm Đinh Sửu (1877) bản thôn lập cầu khoa đàn, nhờ tiên đồng chỉ phán triệu hồn trợ táng, chỉ rõ mộ hai tiên sinh sang táng tại ruộng mạ trên gò cao Quan xứ,

(Tr.2)

Cựu triều Phấn lực Đại tướng quân Dương Tướng Công tự Văn Xán: tiên sinh, Tổ bà nhu nhân thần vị

Cao tỏ đời thứ 10 Dương Nhất Lang: (tên chữ không rõ), giỗ ngày 11/2. Cao Tổ tỷ Nguyễn Thị Giám (Lãm) giỗ ngày 5/1 mộ cùng táng tại xã Cao Hương,

Cao tổ đời thứ 9 Dương Viết Tiêu: tư Thiện Tâm. Giổ ngày 5/2. Tổ bà chính thất Đậu Thị Trà nhu nhân thần vị, mộ táng tại xóm Yên Lại, địa phần vườn Đông, giỗ ngày 16/1

Cao tỏ đời thứ 8: Dương Công Bình: tự Chính Phúc, Mộ táng tại xóm Quan Nội, Đồng Lại xứ. Giổ ngày 19/2. Tổ bà Phùng Thị Yên hiệu Từ Diệu nhu nhân thần vị, Mộ táng tại Quan Nội thôn, Quần Lại xứ. Giỗ ngày 5/11. Cao tổ vốn ở xã Cao Hương, có 4 gái và 1 trai hiệu Dương Công Minh mang cả mộ cha mẹ cùng vợ con di cư sang xã Lạng Điền. Mộ táng tại Bàu Vạn Thôn. Giỗ ngày 4/3

Cao tổ đời thứ 7: Dương quý công Dương Công Minh: tự Lệnh Lang là người hiền lành, giỏi nghề buôn bán. Mộ táng thôn Bàu Vạn địa phận quần tri xứ thôn Quế thu điền, giổ ngày 4/3.

(Tr.3)

Tổ bà chính thất Trần Thị Đạm: hiệu Từ Tiên Nhu Nhân mộ táng xứ Đồng Kiện ruộng mạ của ông Thái Phú Can, giổ ngày 16/4. Cao tổ khảo vốn sinh tại xóm Quan Nội phiêu bạt tới xã Lãng Điền tạo lập gia đường thành tiểu phú, sinh được 4 trai 3 gái, đến năm Nhâm Dần (1782) lũ lụt lớn chuyển về Đông Thành xã Yên Lăng, làng Quan Nội, xóm Thượng, thiết lập hương hoả thành nhà buôn lớn, các con kế hậu:

Trưởng nam Dương Công Hưng, tự Trọng Thông, sinh ở Lãng Điền, không rõ tông tích phần mộ.

Thứ nam Duơng Công Lâm, tự Công Cơ tức Cao tổ họ Dương ở Thịnh Sơn

Thứ thứ nam: Dương Công Thuật (Vệ) mất sớm, giỗ ngày 21/1, mộ táng ruộng mạ đông xóm Thượng

Con trai út: Dương Công Lý, mất sớm. giổ ngày 16/6, mộ táng tại đông hậu xóm Thượng

Con gái đầu: Dương Thị Kính do con cháu Thài Doãn Thực thờ cúng; Thứ nữ: Dương Thị Tín không rõ tung tích; Con gái út Dương Thị Luật mất sớm, giỗ ngày 22/7 mộ táng tại ruộng mạ xóm Thượng

Đời thứ 6: Cao tổ khảo tiền tiến công, thứ lang, tên chữ Dương Công Cơ: (揚 仲 機).Sinh năm Nhâm Thìn (1772), giỗ ngày 13/2. Giỏi về nghề ghi chép sổ sách. Mộ táng tại Yên Lăng, đồng Nhà Thánh. Cao tổ tỷ Trần Thị Hằng, huý Thị Bằng, hiệu Từ thuận nhu nhân thần vị. Giỗ ngày 18/1. Mộ táng tại Làng Quan Nội, Đông xóm Thượng, Quyết Điền xứ tọa Tý hướng Ngọ. Thân sinh cụ Công Cơ vốn ở xã Lãng Điền, có một thời gian xa quê lấy vợ rồi quay về quê cũ của Tổ ở xã Yên Lăng, thôn Quán Nội, xóm Thượng lý. Cụ ông bị bệnh mất sớm, cụ bà một mình nuôi con, tạo được ruộng ao vườn chia làm 3 phần có di chúc. Cao tổ sinh 3 nam 1 nữ:

Trưởng nam Dương Trọng Hướng (揚 仲 珦) - huý Trọng Dong (仲 瑢)tên chữ là Trọng Dung (1804 -1876);

(Tr.4)

Thứ nam Dương Trọng Thuyên (揚 仲 銓), tự Trọng Uổng, huý Trọng Toàn, tên chữ Quang Cảnh phu quân, sinh năm Đinh Mão (1807):

Nam thứ ba huý Trọng Thứ (揚 仲 庶) phu quân, tự Trong Châu, sinh năm Kỷ Tỵ (1809)

Nhất nữ: Dương Thị Đẩu (揚 氏 斗) là em gái Dương Trọng Hướng, lấy chồng Lê Nhâm nhưng không có con nên phần ruộng của bà Đẩu được chia lại 3 phần cho 3 chi. Mộ táng ở ruộng mạ Quyết Điền, hậu xóm Thượng. Giỗ ngày 13/8 (Năm mất năm sinh không rõ, nhưng là em ông Hướng nên nội suy sinh cuối năm 1805 hoặc đầu năm 1806). Lăng Tổ bà Dương Nhất Nương hiệu Anh Linh Thần vị tại Làng Quan Nội bắc xóm Thượng

Đời thứ 5:(3 con trai cao tổ Dương Công Cơ):

Trưởng Nam: Dương Trọng Hướng (揚 仲 珦)- huý Trọng Dong (仲 瑢)tên chữ là Trọng Dung, sinh năm giáp tý (1804), Mất năm Bính Tý (1876), giổ ngày 4/6. Mộ táng ruộng mạ góc đông nam xóm Thượng. Khi còn trẻ biết y dược, địa lý chuyên làm ân huệ có tiếng trong làng, thừa hưởng cơ nghiệp của ông cha, trở thành cự phú, ruộng có 2 mẫu, vườn 3 sào, ruộng làm rẹ 3 sào đã khai sáng xây dựng nên từ đường Họ Dương thôn thượng hoàn thành vào năm Tự Đức Canh Thìn (1880. Ruộng đất hương hoả chia có chúc thư. Vợ chính là Lê Thị Hằng (Thị Điềm), nhị huý Thị Thân, hiệu Từ tính tốt, sinh năm Mậụ Dần (1818), là người cùng thôn sinh được 2 trai 6 gái, giỗ ngày 21/10. Mộ táng tại Thế Thế văn xứ Tiên Ông là nơi phúc địa (phía sau động Cao xã Bài Sơn- Đô Lương). Vợ hai là Phạm Thị Thân nhu nhân, người xã Cao Xá, sinh được 1 trai, 1 gái lập gia đình ở thôn Quán Nội, điếm Thượng sinh 1 con gái. Mất ngày 14/6 Mộ táng ở Đồng Nắc, thôn Bàu Vạn, tại ruộng mạ ông Nguyễn Xuân Giật, đông xóm Thượng. Cụ Hướng có 3 nam 7 nữ:

2. Thứ nam Dương Thứ công huý Trong Thuyên, tự Quang Cảnh Phu Quân, trước làm lý trưởng kiêm chức Trị sự

3. Thứ thứ nam tiền tiến công thứ lang: biết xem tướng, chức Tri bạ, Dương quý công huý Trọng Cầu phu quân, vợ chính thất Nguyễn Thị Lăng, á thất Trần Thị Tiêu nhu nhân

Tổ thúc Dương Trọng Thông thần quỷ, Dương Công Lý thần quỷ

(Tr. 5)
- Tổ thúc phó đô sứ Dương Công Thuật thần quỷ
- Tô cô Dương Thị Tín, Dương Thị Luật thần quỷ

Tằng tổ khảo trước thi vào Tướng sỹ, làm chức Tri bộ ở điện Thừa Hoa Dương Trưởng công, huý Trọng Đỉnh phu quân, vợ chính Thái Thị Kế, vợ hai Trần Thị Diên, vợ kế Trần Thị Sâm nhu nhân
- Tổ thúc Dương Trọng Thông thần quỷ, Duơng Công Lý thần quỷ

Tằng tổ khảo: trước là lý trưởng, Trưởng ban Hương mục kiêm Trùm chức cai xã, huý Trọng Hanh 揚 仲 珦 phu quân, vợ là Thái Thị Nhàn nhu nhân
Tổ cô Dương Thị Thuật thần vị; Dương Thị Vĩnh thần vị

Tằng tổ khảo huý Trọng Hoa: là Trưởng đề trong quân ngũ, được hưởng chức quan viên. Vợ Nguyễn Thị Điều nhu nhân

Tằng tổ khảo huý Trọng Đường phu quân: là thủ hộ. Vợ Nguyễn Thị Ư nhu nhân

Tằng tổ khảo huý Trọng Quỳnh: tên chữ là Quang phu quân, vợ Phan Thị Trưởng nhu nhân

Hiển tổ khảo Trọng Thư: tên chữ Trọng Tân phu quân, làm chức Tri Hương. Vợ Thái Thị Nghị nhu nhân

(Tr.6)

Tổ cô Dương Thị Cư thần vị

Hiển khảo Dương lệnh công, huý Trọng Phiên (揚 仲 幡): (Trong Lang) (仲 琅), tên chữ là Quang Diệu, Trọng Lang, thuỵ Minh Duệ, hiệu Liên Đình. (Trọng Phiên) là người có học đã thi đậu nhị trường Khoa Mậu Ngọ (1858) và Khoa Giáp Tý (1864) nhưng không ra làm quan. Là trùm lệnh bản xã, thông lệnh bản thôn, trùm giáp, trùm lý, thông hiểu y lý. Tổ bà chính thất Thái Thị Hạnh, vợ hai huý Thái Thị Tấn hiệu trinh thuận nhu nhân là người thôn Thượng Giáp, xã Nhuận Trạch, Tiên nông cùng Tổng.

Hiển Khảo Dương Trọng Khuê (揚 仲 刲): thuỵ Văn Ngọc Phu Quân, làm lý trưởng kiêm văn lệnh, tri lệnh chức Dương Thứ Công. Vợ chính Thái Thị Hành, vợ 2 Thị Toàn hiệu trinh thuận nhu nhân

Hiển tổ khảo Dương Trọng Hoán phu quân: làm lý trưởng, tri hương kiêm thông lệnh hộ, cai xã chức. Vợ Thái Thị Ái nhu nhân

Hiển tổ khảo Dương Trọng Hoà: tên chữ Trong Miễn phu quân, làm lý trưởng, chức quan viên kiêm trùm lý. Vợ Thái Thị Cử nhu nhân

Hiển tổ khảo Dương Trọng Năng (nam thứ 3) Dương Quý công phu quân, làm lý trưởng, thông binh kiêm tri hộ. vợ Nguyễn Thị Sao nhu nhân’

Hiển tổ khảo Dương trưởng công, huý Trọng Châu: tên chữ Ngọc Phủ phu quân, làm biên lại trong quân đội kiêm trùm lệnh bản thôn, sau làm lý trưởng tuần mục, chức quan viên kiêm trùm lý. Vợ Thái Thị Sâm nhu nhân

(Tr.7)

Hiển khảo Dương thứ công, huý Trọng Chương: tên chữ Trong Tảo phu quân, là lý trưởng kiêm chức tri hương cai xã Vợ chính Phan Thị Hạnh, vợ hai huý Thị Tình hiệu trinh thuận nhu nhân;

Hiển khảo thứ nam Dương Trọng Chiêu: thuỵ chất trực phu quân, la trưởng đề trong quân ngũ, đội trưởng bát phẩm ở Nghệ An, tri hương bản thôn kiêm Lý thông Binh chức. Vợ chính Nguyễn Thị Kiêm, vợ hai Nguyễn Thị Tố hiệu trinh thuận nhu nhân;

Hiển khảo Thứ nam Dương Trọng Chấn: thuỵ mận trực phu quân, làm là Lý trưởng Tuần mục kiêm sở chánh quản đoàn, cai xã đoàn, cai trùm xã thông lệnh chức, mẫn trực phu quân, Vợ chính Thái Thị Quang, vợ hai Nguyễn Thị Tố hiệu trinh thuận nhu nhân;

Hiển khảo thứ nam Dương Trọng Cẩn: thuỵ chất phác phu quân, vợ chính Thái Thị Hành, vợ hai huý Thị Thiệu hiệu trinh thuận nhu nhân;

Hiển khảo thứ thứ nam: Dương Trọng Quyền: thuỵ cương trực phu quân, vợ chính Thái Thị Vượng hiệu Từ thuận nhu nhân;

Hiển tý : thay chức vụ của chồng làm trùn họ bản tộc, trùm lý bản lý cung bản thông Đoài giáp trùm giáp văn lệnh và thủ chỉ từ đường. 80 tuổi và 90 tuổi được dân tặng văn bằng là vợ chính của thứ nam Dương Trọng Vinh vợ hai là Thị Tín hiệu từ thuận nhu nhân

Hiển tổ khảo thứ nam Dương Trọng Chương: tên chữ Trong Tảo phu quân, Vợ chính Phan Thị Hạnh, vợ hai huý Thị Bình hiệu, trinh thuận nhu nhân;

Hiển khảo Thứ nam: Dương Trọng Chiêu: thuỵ chất trực phu quân, la trưởng đề trong quân ngũ, đội trưởng bát phẩm ở Nghệ An, tri hương bản thôn kiêm Lý thông Binh chức. Vợ chính Nguyễn Thị Kiêm, vợ hai Nguyễn Thị Tố hiệu trinh thuận nhu nhân;

Hiển khảo Thứ nam: Dương Trọng Chấn: thuỵ mận trực phu quân, làm là Lý trưởng Tuần mục kiêm sở chánh quản đoàn, cai xã đoàn, cai trùm xã thông lệnh chức, mẫn trực phu quân, Vợ chính Thái Thị Quang, vợ hai Nguyễn Thị Tố hiệu trinh thuận nhu nhân;

Hiển khảo Thứ nam: Dương Trọng Cẩn: thuỵ chất phác phu quân, vợ chính Thái Thị Hành, vợ hai huý Thị Thiệu hiệu trinh thuận nhu nhân;

Hiển khảo thứ thứ nam: Dương Trọng Quyền: thuỵ cương trực phu quân, vợ chính Thái Thị Vượng hiệu Từ thuận nhu nhân;

Hiển tý : thay chức vụ của chồng làm trùm họ bản tộc, trùm lý bản lý cung bản thông Đoài giáp trùm giáp văn lệnh và thủ chỉ từ đường. 80 tuổi và 90 tuổi được dân tặng văn bằng là vợ chính của thứ nam Dương Trọng Vinh vợ hai là Thị Tín hiệu từ thuận nhu nhân

(Tr.8)

Hiển khảo thứ nam Dương Trọng Hồ: tự Trọng Ban, thuỵ Minh Mẫn phu quân là người có học, đã đi thi, biết y dược địa lý, làm việc ân huệ trong bản lý, trùm lý, giữ chức cai thôn, vợ cả Thái Thị Hành, vợ hai huý Thị Đặc hiệu từ thuận nhu nhân;

Hiển khảo thứ nam: Dương Trọng Anh: tự Mỹ ngọc Minh Đạt phu quân là Trùm Lý, làm tri hương bản thôn, 4 đời ở chung Dương Mạnh Đường

(Tr.9)

Hiển khảo thứ nam: Dương Trọng Giác: thuỵ chất trực phu quân, là trưởng đề trong quân ngũ, làm hương sắc bản thôn, võ hội thông binh kiêm chức tri lý. Hiển tỷ Nguyễn Thị Hành thọ trên 70 tuổi, vợ thứ 4 huý Thị Dinh từ thuận nhu nhân;

Hiển khảo Dương quý công huý Trọng Đôn: thụy cẩn hậu phu quân trước làm Lý trưởng, là trùm Lý, trùm họ, trùm hội thông binh, hương hiệu chức, thọ trên 60 tuổi. Hiển tỷ Dương chính thất Thái Thị Đoài, vợ hai Hoàng Thị Đích hiệu từ thuận nhu nhân

Hiển khảo trưởng nam: Dương Trọng Doãn: thụy cương nghị phu quân, là Lý trưởng, làm tri lý bản lý, bản thôn thông binh hương kiểm, kiêm bản khoán cai khoán chức thọ trên 66 tuổi. Hiển tỷ vợ cả Thái Thị Hành, vợ hai huý Thị Thặng từ thuận nhu nhân;

Hiển khảo thứ nam: Dương Trọng Tư phu quân: trước làm Lý trưởng, trùm họ giữ chức Tuần thôn

Hiển khảo Dương Lệnh Phủ huý Trọng Quân: tự Thứ Ngọc hiệu Liên hồ dật khách phu quân. Trước làm lý trưởng, trùm lý, binh hộ bản xã dữ chức Phó tổng dũng bản tổng Dương Lệnh Phủ. Hiển tỷ vợ cả Thái Thị Hành, vợ tiếp huý Thị Trần, vợ lẽ Thái Thị Chính hiêu từ thuận nhu nhân

(Tr.10)

Hiển khảo Dương Trọng Chương : thuỵ chất trực phu quân, làm Lý trưởng, trùm binh bản thôn, kỳ văn trùm giáp, hiệp trưởng trưởng hội kiêm tuần mục, giữ chức cai khoán trùm xã, thủ chỉ làng, thọ trên 80 tuổi. Vợ chính Trần Thị Huân, hiệu từ thuận nhu nhân

Hiển khảo huý Trọng Túc: chất trực phu quân, là xã Trưởng kiêm chức Tri lý, thọ tai vẫn nghe tốt. Vợ cả Thái Thị Thời, vợ hai Thái Nguyễn Thị Thuận nhu nhân

Hiển tổ khảo huý Trọng Uyên: thuỵ cương trực phu quân, là Lý Trưởng, tuần thông tuần lý võ hội thông binh giữ chức cai xã tuần khoán, thọ tai vẫn nghe tốt. Hiển tổ tỷ chính thất Thái Thị Hành, vợ hai Thị Phiệt, hiệu trinh thuận nhu nhân

Hiển tổ khảo huý Trọng Khai: cẩn chất phu quân, là Lý Trưởng, trùm lý, trùm giáp, trùm hộ chức, thọ 72 tuổi. Hiển tổ tỷ chính thất Thái Thị Hành, vợ ba huý Thị Đức hiệu từ thuận nhu nhân

Hiển tổ khảo huý Trọng Kiện: cẩn chất phác phu quân, là Lý Trưởng, võ hội thông binh. Hiển tổ tỷ chính thất Thái Thị Đình, vợ hai Thái Thị Duệ từ thuận nhu nhân

Hiển tổ khảo Dương Thứ Công: huý Trọng Ngoạn trước làm lý trưởng, thông binh chức, hiệu cương kính phu quân. Hiển tỏ tỷ Nguyễn Thị Tính, hiệu nhu nhân

(Tr.11)

Hiển tổ khảo (trưởng nam) Dương Trọng Hoan: cẩn văn duyệt phu quân, làm quan viên tư ấm kiêm chức thông binh. Hiển tỏ tỷ Thái Thị Hành, vợ thứ tư huý Thị Hành nhu nhân

Hiển tổ khảo Dương Trọng Tướng: (thứ nam), thuỵ cương trực phu quân, làm lý trưởng, làm bản lý tuần lý kiêm trùm lý, giữ chức trị hương thông lệnh, cai xã trùm khoán được thưởng chức Phó Tổng, thuỵ cương kính phu quân. Hiển tỏ tỷ chính thất Thái Thị Hành, vợ ba Thị Niệm từ thuận nhu nhân

Hiển tổ khảo Dương Trọng Đương: (thứ nam), thuỵ cương trực phu quân, làm lý trưởng, tri lý bản lý, giữ chức cai xã bản thôn, thọ trên 60 tuổi. Tổ tỷ chính thất Thái Thị Dưỡng, vợ thứ hai Thái Thị Oanh nhu nhân

Hiển tổ khảo Dương Trọng Hướng: (thứ nam), thuỵ chất phác phu quân, làm lý trưởng, tri lý bản lý, cai xã bản thôn, giữ chức tri hương. Tổ tỷ chính thất Thái Thị Hành, vợ thứ tư Thị Lê, hiệu từ thuận nhu nhân

Hiển khảo Dương Trọng Đôi phu quân: làm lý trưởng, hộ hội, cai xã chức

Hiển tỷ :nhậm chức của chồng Dương chính thất Nguyễn Thị Hành và vợ hai Thị Thịnh hiệu từ thuận nhu nhân

Hiển khảo Dương Trưởng công huý Trọng Phác phu quân: làm lý trưởng, tri hương bản thôn, chức cai xã

Hiển tỷ : nhận chức của chồng tri lý, bản lý, bản tộc, hương mục bản thôn, tri hương chức, Dương chính thất Nguyễn Thị Hành, huý Thị Nhị nhu nhân.

Hiển khảo: trước làm lý trưởng, bản lý thông lâm, cai xã, tri hương, võ hội thông bính chức; Dương trưởng công huý Trọng Lộc, thuỵ chất trực phu quân

(Tr.12)

Hiển khảo: trước làm lý trưởng, cai xã, tri hương chức, Dương Trưởng Công huý Trong Lục, thuỵ chất trực phu quân

Hiển khảo huý Trọng Câu: thuỵ Trung Hậu phu quân, trước làm lý trưởng, trùm tộc, trùm lý cai khoán, bản thôn văn hội thông hội võ hội thông binh, quyền lý trưởng, phó tổng dũng, bản tổng trưởng nam

Hiển khảo huý Trọng Tự: thuy cương trực phu quân, trước làm lý trưởng, thông hội thông binh bản thôn, giữ chức trùm hộ bản xã

Hiển khảo thứ nam huý Trọng Mai: hiệu chất phác phu quân, trước làm lý trưởng, thông hội thông binh bản thôn, giữ chức trùm hộ bản xã. Hiển tỷ Thái Thị Bôn hiệu từ thuận nhu nhân

Hiển khảo huý Trọng Bân: phu quân, trước làm lý trưởng, cai xã bản thôn, giữ chức thông binh

Hiển tỷ Dương chính thất Hoàng Thị Hành: bà ba huý Thị Cận nhu nhân nhận chức của chồng là Trùm tộc, tri lý bản lý cai xã bản thôn

Hiển tỷ Dương chính thất Thị Nghiên: nhu nhân nhận chức của chồng là Cai xã bản thôn

Hiển khảo thứ nam Trọng Doan: thuỵ chất phác phu quân, trước làm lý trưởng, cai xã bản thôn chức

Hiển tổ khảo Dương tướng công :huý (mất chữ) phu quân, trước làm lý trưởng, tri hương bản thôn thông binh chức, vợ cả Thái Thị Hành, vơ hai huý Thị Cúc hiệu từ thuận nhu nhân

Hiển khảo thứ nam Trọng Thượng phu quân: trưởng đề trong quân ngũ, quan viên tư ấm

(Tr.13)

Hiển khảo thứ nam Trọng Dưỡng: thụy cương trực phu quân, là lý trưởng, tuần lý, trùm lý, giữ chức Tri Hương võ hội thông binh bản thôn, thọ 60 tuổi. Vợ chính thất Thái Thị Hành, vợ hai huý Thị Ái, vợ ba Thái Thị Cầu nhu nhân

Hiển khảo thứ nam Trọng Hội: thuỵ chất phác phu quân, trước làm lý trưởng. Vợ chính thất Nguyễn Thị Hành hiệu từ thuận nhu nhân

Hiển khảo trưởng nam Trọng Luận: thuỵ cương trực phu quân, trước làm lý trưởng, tri lý, tuần lý trùm lý dịch mục bản thôn, tuần thôn văn hội tri hội chức. Vợ chính thất Thái Thị Hành, vợ hai huý Thị Cầu hiệu từ thuận nhu nhân

Hiển tỷ Dương chính thất Nguyễn Thị Hành: nhu nhân nhận chức của chồng là Trùm tộc trùm lý trùm văn hội thông binh tri hộ chức, bà hai huý Thị Hữu

Hiển tỷ Dương chính thất Trần Thị Hành: thọ 70 tuổi, và một bà hai huý thị Thâm nhu nhân nhận chức của chồng trước là Lý trưởng Trùm tộc trùm lý dịch mục bản thôn võ hội thông binh kiêm tuần khoá từ đường chức, được cấp trên miễn mọi tạp dịch

Hiển khảo trưởng nam Trọng Ngọc: thuỵ chất trực phu quân, trước làm lý trưởng trưởng tộc, tri lý bản lý võ hội thông binh cai thôn.

(Tr.14)

Hiển khảo Dương công thái huý Trọng Hai: thuỵ chất phác phu quân, trước làm lý trưởng, trưởng tộc, cai xã bản thôn, tri hương chức

Hiển khảo Dương trưởng công huý Trọng Tùng Hai: thuỵ chất phác phu quân, trước làm lý trưởng, trưởng tộc, cai xã bản thôn, võ hội thông binh chức. Vợ chính thất Thái Thị Hành, bà hai huý Thị Trinh nhu nhân

Hiển tỷ Dương chính thất Thái Thị Hành: thọ 60 tuổi, bà hai huý Thị Diệu nhu nhân nhận chức của chồng trước là Lý trưởng Tri lý trùm lý kiêm cai khoán

Hiển khảo Dương thứ công huý Trọng Khuyến: thuỵ cương trực phu quân, trước làm lý trưởng, trùm tộc, tuần lý hiệu lân võ hội thông binh cai thôn chức

Hiển tỷ Dương chính thất huý Thị Cô: huý trinh thuận nhu nhân nhận chức của chồng trước là Lý trưởng cai xã bản thôn hộ hội chức

Hiển tỷ Dương môn chính thất Hoàng Thị Hành: bà hai huý Thị Đoàn hiệu từ thuận nhu nhân, nhận chức của chồng là Trùm tộc, thông lân bản lý, võ hội thông binh chức, tri hội, hộ hội, cai hội hương mục, kiêm hương kiểm

Hiển khảo Dương trưởng đường huý Trọng Thiện: thuỵ cương trực phu quân, trước là Lý trưởng, trùm tộc, dịch mục chức bản thôn

(Tr.15)

Về cụ tổ khảo 6 đời Dương Công Cơ:tiền tiến công, giỏi về nghề đọc và ghi chép sổ sách, Cao tổ tỷ Trần Thị Bằng
Nhà thân sinh ở Lãng Điền, lấy vợ đâu sài quần khởi giáp, rồi về quê cũ ở Yên Lăng thôn Quán Nội, điếm Thượng lý, sinh được 3 trai:
- Trường nam: Dương Trọng Hướng (Trongj Dung);
- Thứ nam: Duơng Trọng Thuyên;
- Thứ thứ nam: Dương Trọng Thứ
- Nhất nữ: Dương Thị Đẩu lấy ông Lê Nhâm

Về cụ tằng tổ khảo Dương Trọng Hướng, tự Trọng Dung: thừa hưởng cơ nghiệp của cha trở thành cự phú, ruộng 2 mẫu, vườn đất 3 sào đã khai sáng xây dựng từ đường của họ là công lao của cụ Hướng. Cụ sinh năm giáp tý lấy cụ bà Thái Thị Điềm người cùng thôn, sinh 3 trai 5 gái. Sau lại lấy cụ Phạm Thị Thân người xã Cao Xá sinh được 1 gái lập gia đình ở thôn Quán nội, xóm Thượng ruộng chia làm 7 phần có di chúc thư; Mất ngày 4/6 năm Bính Tý, mộ táng ở ruộng mạ phía đông góc Đông Nam Điếm thượng
Tằng tổ tý Thái Thị Điềm mất ngày 21/10 năm Mậu Dần mộ táng vào Kiều Thế Thế văn là nơi phúc địa
- Tằng tổ tỷ á thất Phạm Thị Thân mất ngày 14/6 mộ táng ở Đồng Nắc, thôn Bào Dược, ruộng mạ ông Nguyễn Xuân Giật;
(Tr.16)
. Chín con trai, con gái:
- Trương nam Dương Trọng Đỉnh (Triệt), con bà cả;
- Dương Trọng Hanh, con bà hai;
- Dương Trọng Đình, con bà cả, mất sớm, vô tự, mộ táng ở Đồng Nền, Kim Giai, giồ 13/5
- Dương Thị Thanh, chồng Thái Phú Đức;
- Dương Thị Đang, chồng Nguyễn Tụng;
- Dương Thị Hạnh, chồng Nguyễn Quốc Thử;
- Dương Thị Bằng, chồng Nguyễn Thái Đạt;
- Dương Thị Đài, chồng Thái Khắc Diện;
- Dương Thị Huỳnh, chồng Thái Khắc Cầu;
- Dương Thị Chanh, chồng Nguyễn Xuân Nậy;

Về hiển tổ khảo Dương Trọng Đỉnh: thuỵ phác trực tướng công, sinh năm Mậu Tý, giổ ngày 14/10, mộ táng ỏ thôn Bàu Dược, vệ tám xứ, huyệt toạ mùi hướng sửu, phân kim tâm mùi tân sửu. Chính thất Thái Thị Kế, người cùng thôn, giổ ngày 10 tháng 2, mộ táng ở xứ Đồng Kiện thô phụ toạ tý hướng hợi phân kim Đinh Ty Đinh Hợi
(Tr.17)
- Á thất Trần Thị Diên người thôn Chấp Trung, giổ ngày 28/8. Mộ táng Đồng Bông xứ, Ruộng ông Dương Trọng Chương, thổ phụ phía Tây Bắc, toạ Tý, hướng Ngọ, phân kim Canh tỵ Canh Ngọ
- Kế thất Trần Thị Sâm người thôn Chấp Trung, Chấp quả xứ, ruộng mạ ông Dương Trọng Thiều toạ Ngọ hướng Tý, phân kim Canh Ngọ Canhh Tý;
- Bà Chính thất sinh sinh 2 trai 3 gái:
+ Trưởng nam Dương Trọng Quỳnh (揚 仲 琼),
+ Thứ nam Dương Trọng Thư (揚 仲 書) lấy người ở Kỳ Thôn tổng Bạch Hà
+ Trưởng nữ Dương Thị Khương lấy ông Thái Văn Ý người cùng thốn sinh 1 trai: Thái Văn Trị
+ Thứ nữ Dương Thị Khang lấy ông Nguyễn Đăng Sãm ngườ xã Văn Tràng
+ Gái út: Dương Thị Thường láy ông Nguyên Khắc Tăng nguờì thôn Hội Tâm, giổ 3/1, mộ táng ở thổ phụ gần đông điếm Thượng, toạ Tý hướng Ngọ
- Trưởng nữ Dương Thị Cư mát sớm; giổ 15/10 mộ táng sau điếm Thượng
- Thứ nữ Dương Thị Chư lấy ông Nguyễn Xuân Giật thôn Bàu Dược sinh 1 gái: Nguyễn Thj Tịnh, giổ 5/9 do Nguyễn Xuân Trạch thờ cúng;
- Thứ Thứ nữ Dương Thị Tú láy ông Nguyễn Đăng Dung ngườì làng Hội Tâm sinh 3 trai 1 gái, giổ 20/3 do ông Nguyễn Đăng Bỉnh thờ cúng;
- Bà á thất sinh được 1 gái Dương Thị Chân láy ông Thái Khắc Luỹ người cùng thôn, không có con lại lấy ông Nguyễn Xuân Đạo ở Vạn An Trang cùng không có con, giổ 13/7, mộ táng ở Van An Xứ, do Đoàn Ngoạn thờ cúng
(Tr.18)
- Bà kế thất sinh 3 trai 2 gái:
* Thứ thứ nam Dương Trọng Lương tự Trọng Hiển lấy người thôn Hội Tâm bà Thái Thj Cần sinh 13 trai, mất 7 còn 6 trai:
- Trưởng nam Dương Trọng Thiều. Thứ nam Dương Trọng Chấn, Dương Trọng Cẩn; Dương Trọng Quyền; Dương Trọng Vĩnh; Dương Trọng Hồ; Dương Trọng Hổ.
* Thứ thứ nam Dương Trọng Phiên, tự Quang Diệu, lấy bà Thái Thị Tấn, người thôn thương, giáp Nhuận Trạch, xã Tiên Nông, cùng Tổng sinh được 3 trai 2 gái. Trương nam Dương Trọng Anh; thứ nam Dương Trọng Dốc, thứ thứ nam Dương Trọng Đôn. Trưởng nữ Dương Thị Liễn lấy ông Nguyễn Đăng Linh người hội tâm, còn một bà nữa (mất chữ)
* Thứ thứ nam Dương Trọnh Khuê lấy bà Thái Thị Toàn người Hội Tâm sinh được 5 trai 2 gái, còn 3 trai: Dương Trọng Doãn; Trọng Phú, Trọng La. Giổ ngày 4/11. Mộ táng ở thổ phụ Tây Yên xứ
* Thứ Thứ thứ nữ: Dương Thị Lân lấy ông Thái Khắc Khẩn người Hội Tâm sinh 3 trai 3 gái
* Con gái út: Dương Thị Thời lấy ông Thái Khắc Biểu người cùng thôn, sinh 2 trai 1 gái

Vê hiển khảo Trưởng nam Dương Trọng Quỳnh: tự Quang Cảnh, giổ ngáy 13/11. Vợ Phan Thị Trường, giổ ngày 29/6 người xã Yên Lăng, sinh 3 trai 3 gái:
(Tr. 19)
- Trưởng nam Dương Trọng Châu
- Thứ nam Dương Trọng Thuỵ mất sớm;
- Thứ thứ nam Dương Trọng Chương lấy bà Thái Thị Thanh người xã Yên Lăng, sinh 3 trai 2 gái: Trưởng nam Dương Trọng Điểm…… , thứ nam Dương Trọng Đang; Trưởng nữ Dương Thị Triệu, Thị Nhã, Dương Thị ……. Giổ ngày 21/ ….) mộ táng
* Trưởng nữ Dương Thị Bích lấy ông Thái Văn Xuân người cùng thôn, sinh 5 trai 1 gái
* Thứ nữ Dương Thị Liệu lấy ngươi xã Yên Lăng sinh 2 trai, do Thái Đình Bình thờ cúng
* Con gái út: Dương Thị Thiều lấy ông Thái Đình Hạt không có con, giổ ngày 19/1, mộ táng ở Yên Lăng

Về Trưởng nam Dương Trọng Châu: lấy bà Thái Thị Sâm người Hội Tâm, sinh 2 trai 8 gái: còn 1 trai 7 gái:
* Trưởng nam Dương Trọng Hoan lấy bà Thái Thj Hành cùng thôn;
* Trưởng nữ Dương Thị Tuyên lấy ông Thái Doãn Bói ngườn cùng thôn;
* Dương Thị Toàn lấy ông Thái Khắc Đường người Hội Tâm;
* Dương Thị San lấy ông Thái Khắc Cương người cùng thôn;
* Dương Thị Lai lấy ông Thái Văn Tấn người Xuân Sơn;
* Dương Thị Hoàn lấy ông Nguyễn Đinh Nhuế người thôn Yên Lại;
* Dương Thị Tẩy lấy ông Thái Khắc Nghiễn không có con, mất sớm giổ 15/8
* Gái út: Dương Thị Tám lấy ông Thái Văn Giảng người Yên Lăng

(Tr.20)

Về con trai thứ cửa cụ tăng tổ Dương Trọng Hướng là Dương Trọng Hanh, tự Trọng Kỳ, giổ ngày 24 tháng 6, mô táng tại Bàu Quan thổ phụ. Tổ tỷ Thái Thị Nhàn người cung thôn, em gái Thái Doãn Biểu, giổ ngày 18/3, mộ táng ở ruộng mạ. Thiếp là Thái Thị Vân chăm làm việc không có con khong rõ ngày mất và phần mộ, sinh được 1 trai 5 gái:
* Trưởng nữ Dương Thị Hiệu lấy ông Thái Doãn Căn người xứ Yên Lăng do Thái Doãn Dược thờ cúng;
* Thứ nữ Dương Thị Đạo lấy người Yên Lại do Xã Luận tthờ cúng;
* Thứ nữ Dương Thị Mùi lấy ông Thái Phúc Bá người cung thôn sinh 1 gái Thái Thị Nguyên;
* Thứ nữ Dương Thị Đào lấy ông Thái Văn Ích cùng thôn, sau lại lấy Thái Văn Nô cung thôn;
* Trươrg nam Dương Trọng Hoan giổ ngày 6/11, mộ táng ở Đồng Nắc gốc cây Hông xứ, toạ mùi hướng sửu, phân kim Đinh Mùi, Đinh Sửu, vợ là Thái Thị Khánh người Hội Tâm, giổ ngày 5/8, mộ táng cung với cụ ông, phân kim như cụ ông, sinh 1 trai 3 gái: Trưởng nam Dương Trọng Quản, trước lấy bà Thái Thị Chín người xứ Yên Lăng, giổ ngày 15/3, mộ táng xứ Ba la Đồng Quan, sinh được 1 gái

(Tr.21)

Dương Thị Hoè sau lấy con gái cụ Thái Đắc Thống người thôn Yên Mỹ là bà Thái Thị Chính sinh 5 trai 2 gái: Trưởng nam Dương Trọng Tuân, Thứ nam Dương Trọng Ánh, Dương Trọng Tư, Dương Trọng Mai, Dương Trọng Câu; 2 gái: Dương Thị Hoa lấy chồng ở Văn Tràng, Dương Thị Trạch lấy chồng ở Tiên Nông
+ Trưởng nữ: Dương Thị Đài lấy ông Trần Văn Tỉnh cùng thôn sinh được 3 trai;
+ Thứ nữ: Dương Thị Toả lấy ông Nguyễn Đăng Hoàn;
+ Còn 1 nữ nữa không thấy ghi

Về Tằng tổ khảo chi thứ hai: Dương Trọng Thuyên: tự Trọng Quang, giổ ngày 21/6 mộ táng ở cây Vối hạ Đồng Quan. Cụ bà Lê Thị Nhị, giổ ngáy 18/7, mộ táng ở xứ Đồng Nắc, sinh được 2 trai:
- Trưởng nam Dương Trọng Hoa, giổ ngày 18/1, mộ táng ở thôn Bàu Dược, thổ phụ Vệ Bụt xứ. Vợ là Nguyến Thị Điều giổ ngày 16/3, mộ táng ở ruộng mạ điếm thường xứ;
- Thứ nam Dương Trọng Trung, con là Dương Trọng Đông, bố con đều mất, vô tự, mộ táng sau điếm Thượng xứ, giổ ngày 2/2

Về Dương Trong Hoa : sinh được 1 trai 2 gái:
* Trưởng nữ: Dương Thị Bát lấy ông Thái Văn Khuê người cùng thôn, mộ táng ở Bàu Quan xứ, giổ ngày 8/12
* Thứ nữ Dương Thị Chu lấy ông Nguyến Thái Lăng cùng thôn, do Nguyến Thái Tăc thờ cúng
* Trưởng nam Dương Trọng Hoà tự Trọng Miễn giổ ngày 16/10 mộ táng ở ruộng mạ chùa Lắc. Vơ là Thái Thị Cử người cung thôn, giổ ngày 26/8. Mộ táng ơr thổ phụ chùa Lắc xứ, sinh được 5 trai 2 gái:
- Trưởng nam: Dương Trọng Dư lấy bà Trần Thị Huân, người cùng thôn. Giổ ngày 16/tháng, mộ táng ở ruộng mạ Chùa Trồi xứ, sinh 4 trai. Con trưởng Dương Trong Hữu lấy bà Thái Thị Cúc người cung thôn.
- Thứ nam Dương Trọng Tượng mất sớm, mộ táng ở sau điếm Thượng, giổ ngày 20/11; - Dương Trọng Thượng lấy bà Nguyễn Thị Khái người cùng thôn; - Con trai út: Dương Trọng Dưỡng lấy bà Thái Thị Cư người cùng thôn;
Thứ nam Dương Trọng Túc lấy bà Thái Thị Dao bị chết đuối, lai lấy bà Thái Thị Phì người Văn Tràng sinh 5 trai 1 gái:
Thứ nam: Dương Trọng Tiến, đi bộ đội, mất sớm, mộ táng ở xứ Đồng Bổng thổ phụ, giổ ngày 24/12
Thứ thứ nam Dương Trọng Uyên lấy ba Thái Thị Phiệt người cùng thôn, sinh được 3 trai 3 gái: con trai là Dương Trọng Luân, Dương Trọng Kiểu, Dương Trọng Quân
Con trai út: Dương Trọng Khai lấy bà Thái Thị Hiệp người cùng thôn sinh được 3 trai 2 gái: Trưởng nữ Dương Thị Nghìn lấy ông Nguyễn Viết Cựu người cùng thôn sinh được 1 trai là Nguyễn Viết Phượng và 1 gái
Thứ nữ: Dương Thị Dai lấy ông Thái Khắc Tác người Hội Tâm

Về tằng tổ khảo Chi thứ ba ((Tri Mỹ Chi) Dương Trọng Thứ tự Trọng Cầu, giổ ngày 28/1. Mộ táng ở Hạ Đồng Quan, điếm Hồi xứ, thổ phụ chính điền:
- Vợ chính thất Nguyễn Thị Lăng, giỏ ngày 9/9, mộ táng ở ruộng mạ Đồng Nắc xứ, Bàu Dược thôn, sinh được 1 gái là: Dương Thị Nùng lấy ông Nguyễn Viết Cấm người cùng thôn, Vi Tư Đoan thờ cúng.
- Á thất Nguyến Thị Tuyết không rõ ngày giổ, mộ táng sau Điếm Thượng trên ruộng mạ ông Tri Thuỵ sinh 1 gái 1 trai là:

+ Dương Thị Phượng: chồng người cùng thôn, do Hộ Châu thờ cúng

+ Trưởng nam Dương Trọng Năng, mộ táng tại Chùa Lội, lấy bà Nguyễn Thị Tịnh (Diệu) người cùng thôn, mộ táng tại Đồng Nắc, sinh được 2 trai 6 gái.
* Trưởng nam Dương Trọng Kiên,
* Thứ nam Dương Trong Ngoạn.
* Trưởng nữ Dương Thị Dục lấy chồng Nguyễn Đinh Quang thôn Bàu Dược.
* Dương Thị Thi lấy chồng người cùng thôn sinh được 1 gái.
* Dương Thị Hệ lấy chồng người Xuân Sơn do Tri Vinh thờ cúng
* Dương Thị Khang lấy ông Thái Văn Thái cùng thôn.
* Thứ nữ Dương Thị Hoà lấy ông Nguyễn Đình Thương cùng thôn.
* Con gái út Dương Thị Thuỳ chồng Thái Doãn Viên

Hết

Ghi chú:

1. Các chức danh của các bậc tiên tổ thời Phong kiến thuộc Pháp trước năm 1945 ghi trong gia phả:
- Về chức danh quản lý làng xã: Từ thời nhà Nguyễn (1824- 1883) sau khi Vua Gia Long thống nhất đất nước, chính quyền trung ương chỉ quản cấp phủ và huyện, trao quyền cai tổng, phó tổng do các làng bầu. Năm 1904, thực dân Pháp tổ chức “Ban Hội Tề” (còn gọi là Hội đồng làng) có các chức vụ: Hương cả, Hương chủ, Hương sư, Hương trưởng, Hương chánh, Hương giáo, Hương quản, Hương bộ, Hương thân, Xã trưởng, Hương hào…Ở Trung Kỳ, năm 1942, Triều đình Huế thành lập Hội đồng Kỳ hào, cơ quan chấp hành là Lý trưởng, Phó lý, Ngũ hương. Bộ máy quản lý làng, xã: Chánh hội, Phó hội, Lý trưởng, Khán thủ, Trương tuần, Phó lý, chưởng bạ, trị bạ, hộ lại; thư ký, thủ quỹ do dân bầu, không do quan trên bổ nhiệm;
- Phường: là tổ chức phường nghề như Phường vải, Phường nề, phường mộc,
- Hội tư văn: là môt tổ chức xã hội của kẻ sỹ dân quê học chữ nho, có các chức danh Hội trưởng, Điển văn, Tả văn do hội bầu chọn
- Hội hương binh: là hội các cựu chiến binh làng, xã đứng đầu là Hội trưởng
- Giáp: Là hội dựa trên quan hệ tuổi tác, tiến thân bằng tuổi tác, gọi là “Xí tác” theo nguyên tắc “trọng xí” được năng dần theo tuổi tác, như già làng ở các dân tộc miền núi
2. Tham khảo các đia danh thời Pháp thuộc trong Gia phả bản chữ Hán
Theo sách Tên làng xã Việt Nam đầu thế ký XIX, danh xưng Đô Lương có từ năm 1831. Đô Lương là một Tổng thuộc huyện Nam Đường, phủ Anh Đô. Phủ Anh Đô gồm có 2 huyện: Nam Đường và Hưng Nguyên. Huyện Nam Đường: gồm có 8 tổng, 90 xã, thôn, phường, trại, sách, giáp, vạn, đó là:
- Tổng Đô Lương gồm 24 xã, thôn, giáp:
+ Đô Lương (xã): thôn Cẩm Hoa Thượng, thôn Cẩm Hoa Đông, giáp Nghiêm Thắng, giáp Duyên Quang, thôn Đông Trung, thôn Hoa Viên, thôn Phúc Thị.
+ Đại Tuyền (xã): thôn Phúc Thọ, Đông Am, giáp Trung An, thôn An Thành
+ Bạch Đường: thôn Nhân Trung, thôn Phúc Tuyền, thôn Phúc An, thôn Nhân Bồi, thôn Miếu Đường.
+ Diêm Trường: thôn An Tứ, Bỉnh Trung, Chấp Trung
+ Phường Thiên Lý, thôn Vĩnh Trung, phường Hồng Hoa, phường Duy Thanh.
- Tổng Lãng Điền: Xã Lãng Điền, Mặc Điền, Tào Nguyên, thôn Vạn Hộ, Cấm An, An Lương, vạn Lãng Điền, Mặc Điền, sách Tào Giang.
- Tổng Thuần Trung: gồm các thôn: Thuần Trung, Tràng Bộc, Yết Nghi, Phật Kệ, Sơn La. - Tổng Bạch Hà: Xã Bạch Hà, Nhân Luật, Lưu Sơn, Thanh Thủy, Đào Ngoã.
- Tổng Non Liễu: 20 xã, thôn, giáp: Non Liễu, Yên Lạc, Thanh Tuyền, Non Hồ, Vân Đồn, Chung Giáp, Thượng Hồng (thôn).
- Tổng Lâm Thịnh; - Tổng Đại Đồng; - Tổng Hoa Lâm

Biên tập bổ sung Dương Trọng Bảng