Thứ Hai, 22 tháng 7, 2019

GIA PHẢ THỨ THỨ CHI CAN CẦU

LÀNG QUAN NỘI, XÓM ĐẠI ĐỒNG, XÃ ĐÔ LƯƠNG

(Cập nhật bổ sung tháng 29/8/2025)

NGUỒN GỐC THUỶ TỐ HỌ DƯƠNG TRỌNG

Nguồn gốc thủy tổ: họ Dương Trọng làng Quan Nội nguyên quán: thôn Giáp. xã Cao Hương, phủ Nghĩa Hưng, huyện Thiện Bản, tỉnh Nam Định di cư vào Nghệ An khoảng năm 1700. Đã có 1 bài viết riêng trong blog này

→ Xem bài: Nguồn gốc thủy tổ họ Dương Trọng

CAO TỔ TỘC HỌ DƯƠNG TRỌNG LÀNG QUAN NỘI

Đời thứ 1:

D1. Cao tổ khảo, thứ nam DƯƠNG CÔNG LÂM (揚 彸 林), tự CÔNG CƠ (彸 基) là CAO TỔ HỌ DƯƠNG xóm Quan Nội, làn Kim Liên, xã Thịnh Sơn. Sinh năm Nhâm Thìn (1772), Giỏi về nghề ghi chép sổ sách, giữ chức Tri bạ (địa chính). Giỗ ngày 13/2, mộ táng tại Yên Lăng, đồng Nhà Thánh. Cao tổ tỷ Trần Thị Hằng, huý Thị Bằng, hiệu Từ thuận nhụ nhân thần vị. Giỗ ngày 18/1, mộ táng tại Làng Quan Nội, đông xóm Thượng, Quyết Điền xứ, tọa Tý, hướng Ngọ. Thân sinh cụ Công Cơ vốn ở Lãng Điền, có một thời gian xa quê lấy vợ rồi quay về quê cũ của tổ ở xã Yên Lăng, làng Quán Nội, xóm Thượng. Cụ ông bị bệnh mất sớm, cụ bà một mình nuôi con, tạo được ruộng ao vườn chia làm 4 phần có di chúc cho 4 con (3 nam 1 nữ):
D2.1.1 Trưởng nam Dương Trọng Hướng (揚 仲 珦), huý Trọng Dong (仲 瑢), tự là Trọng Dung sinh năm Giáp Tý 1804;
D2.1.2 Thứ nam Dương Trọng Thuyên (揚 仲 銓), huý Trọng Toàn, tự Trọng Uổng, tự Quang Cảnh phu quân, sinh năm Đinh Mão (1807):
D2.1.3 Nam thứ ba Dương Trọng Cầu (揚 仲 球)phu quân, húy Trọng Thứ (仲 庶) sinh năm Kỷ Tỵ (1809)
D2.1.4 Nhất nữ:Dương Thị Đẩu (揚 氏 斗) là em gái Dương Trọng Hướng, lấy chồng Lê Nhâm nhưng không có con nên phần ruộng của bà Đẩu hoàn lại cho 3 chi. Giỗ ngày 13/8. Lăng Tổ bà Dương Nhất Nương hiệu Anh Linh Thần vị ở hậu xóm Thượng được con cháu hậu duệ tôn tạo nhiều lần, đặc biệt năm 2024-2025 có sự đóng góp lớn của Trọng Tư, Trọng Thiết Chi Can Phiên và ông Dương Quốc Huy là người con họ Dương quê ở Bắc Ninh nâng cấp khang trang, có hồ sen, đài phun nước, tưởng rào, sân, đường nội bộ và cổng bằng đá tự nhiên

Cổng vào nhà thờ đại tôn lắp dựng năm Canh Tý 2011

Quần thể Lăng tổ cô Dương Nhất Nương hoàn thành năm 2025

Lăng tổ cô Dương Nhất Nương tại Hậu Xóm Thượng trước khi cải tạo, anh chụp năm 2019

Đời thứ 2

Ba con trai kế hậu của cao tổ Dương Công Lâm (Công Cơ)

D2.1 Trưởng Nam, DƯƠNG TRỌNG HƯỚNG (揚 仲 珦): huý Trọng Dong (仲 瑢) tên chữ Trọng Dung (1804 Giáp tý – 4/6/1876 Bính Tý), là trưởng nam thừa hưởng cơ nghiệp của ông cha, trở thành cự phú, ruộng có 2 mẫu, vườn 3 sào, đã khởi công xây dựng từ đường của họ Dương tại xóm Thượng và được con cháu hoàn thành vào năm Tự Đức Canh Thìn (1880). Bà cả Lê Thị Điềm, tên húy Thị Hằng, nhị huý Thị Thiệt, sinh năm Mậụ Dần (1818), là người cùng thôn sinh đắc 2 trai 6 gái, giỗ ngày 21/10. Mộ táng tại Thế Thế Văn xứ Tiên ông là nơi phúc địa (phía sau động Cao xã Bài Sơn). Bà hai Phạm Thị Thân, người Cao Xá, sinh được 1 trai, 1 gái lập gia đình ở thôn Quan Nội, xóm Thượng, sinh 1 con gái. Con 3 trai 7 gái:
D3.1.1 Dương Trọng Đỉnh (Triệt), con bà cả;
D3.1.2 Dương Trọng Hanh, con bà hai;
D3.1.3 Dương Trọng Đình, con bà cả, mất sớm, vô tự, mộ táng ở Đồng Nền, Kim Giai, giồ 13/5
D3.1.4 Dương Thị Thanh, D3.1.5 Dương Thị Đang; D3.1.6 Dương Thị Hạnh; D3.1.7 Dương Thị Bằng; D3.1.8 Dương Thị Đài; D3.1.9 Dương Thị Huỳnh; D3.1.10 Dương Thị Chanh

Con trai Trưởng Dương TrọngTriệt và con thứ Dương Trong Hanh chia ra hai cửa để thờ cúng: Cửa Giáp do cụ Dương Trong Triệt làm Trưởng tộc gọi là Can Trường và Cửa Ất do cụ Dương Trọng Hanh làm Trưởng chi gọi Can Sinh (Chi ông Phương Đài hiện nay)

D2.2 Thứ nam DƯƠNG TRỌNG THUYÊN (揚 仲 銓): huý Trọng Toàn 仲 佺, tự Trọng Uổng, là Lý trưởng kiêm chức trị sự. Sinh năm Đinh Mão (1807), giỗ ngày 21/6. Vợ Lê Thị Nhị (Thị Ư) giổ ngày 18/7, sinh 5 nam:
D3.2.1 Dương Trọng Sung, vô tự;
D3.2.2 Dương Trọng Đông, vô tự;
D3.2.3 Dương Trọng Trung, vô tự;
D3.2.4 Dương Trọng Hoa;
D3.2.5 Dương Trọng Hoà tự Trọng Miễn

D2.3 Thứ thứ nam DƯƠNG TRỌNG CẦU (揚 仲 俅): huý Trọng Thứ 仲 庶). Giữ chức Tri bạ (địa chính), giổ ngày 28/1. Vợ chính thất Nguyễn Thị Lăng giỗ ngày 9/9, sinh nhất nữ. Vợ hai: Nguyễn Thị Tuyết (Tiêu) sinh 1 nam, 1 nữ
D3.3.1 Dương Thị Nùng con bà cả, lấy chồng Nguyễn Viết Cẩn
D3.3.2 Dương Thị Phượng lấy chồng người cùng thôn Hộ Châu thờ cúng
D3.3.3 Dương Trọng Năng, con bà hai

Đời thứ ba: Ba con trai Cao tổ lập thành 3 chi

Con cháu chắt 3 con trai Cao tổ phát triển nhanh, lập thành 3 chi: Chi Trưởng Dương Hưởng, Thứ Chi Can Thuyên- gọi là Chi Đông Tùng và Thứ thứ Chi Can Cầu- gọi là Tri Mỹ Chi để thờ tự:

CHI TRƯỞNG- TRƯỞNG TỘC DƯƠNG HƯỚNG

Hai con trai Trưởng tộc Dương Hướng

D3.1.1 TRƯỞNG NAM DƯƠNG TRỌNG ĐỈNH-(揚 仲 椗),(Mậu Tý 1778 – 1828), thụy phác trực tướng công là Trưởng tộc cửa trưởng, giữ chức tri bạ (đia chính) giỗ ngày 14/10, mộ táng thôn Bàu Vạn vệ tám xứ, huyệt toạ Mùi, hướng Sửu, phân kim Tân Mùi Tân Sửu. Có ba vợ: Vợ cả Lê Thị Kế người cùng thôn, giỗ ngày 10/2, sinh 02 nam 03 nữ (giỗ 10/2) mộ táng xứ Đồng Kiện thổ phụ, toạ Tỵ hướng Hợi, phân kim Đinh Tỵ Đinh Hợi. Vợ hai Trần Thị Diên (Duyên) sinh 01 nữ người thôn Chấp Trung, giỗ ngày 28/8, mộ táng Đồng Bổng xứ, ruộng ông Dương Trọng Chương, thổ phụ phía Tây Bắc, toạ Tỵ hướng Ngọ, phân kim Canh Tỵ, Canh Ngọ. Vợ ba Trần Thị Sâm (còn gọi là Tám) người thôn Chấp Trung, giỗ ngày 16/6 mộ táng Thôn Bàu Vạn, Chấp Quả xứ, ruộng mạ ông Dương Trọng Thiều, toạ ngọ, hướng tý, phân kim Canh Ngọ, Canh Tý, sinh 3 nam 2 nữ: Tất cả có 5 nam 4 nữ:
D4.11.1 Dương Trọng Quỳnh (揚 仲 琼), cố Quyên, con bà cả;
D4.11.2 Dương Trọng Thư (揚 仲 書),tự Trọng Tâm,cố Vân, con bà hai;
D4.11.3 Dương Trọng Phiên (揚 仲 幡), còn gọi là cố Xiển, con bà ba;
D4.11.4 Dương Trọng Khuê (揚 仲 刲)- cố Hoàn, con bà ba;
D4.11.5 Dương Trong Phạn (揚 仲 梵)- mất sớm, vô tD3.1.2ự, con bà Sâm;
D 1.6 Dương bị Châu, con bà hai lấy ông Thái Khắc Luỹ người cùng làng, tái giá với ông Nguyễn Xuân Đạo làng Vạn An;
D4.11.7 Dương Thị Lâm chồng Thái Khắc Khẩn người Làng Hội Tâm sinh có 3 trai 3 gái;
D4.11.8 Thứ nữ Dương Thị Thời chồng Thái Khắc Biểu, người cùng thôn, có 2 trai 1 gái

D3.1.2 THỨ NAM DƯƠNG TRỌNG HANH (揚 仲 亨), tự Trọng Kỳ, còn có tên Trọng Quách con bà hai, được học hành chu đáo, giữ chức Phó Lý (không do quan trên bổ nhiệm do dân bầu, tương đương với cấp Phó chủ tịch xã), mộ táng tại Đồng Quan. Cố bà chính thất Thái Thị Nhàn ở xóm Hội Tâm sinh nhất nam:
D4.12.1 Dương Trọng Hoán (cố Phó Tiệp)

THỨ CHI CAN THUYÊN- CHI ĐÔNG TÙNG

2.1 Hai con trai kế hậu Thứ nam Dương Trọng Thuyên (揚 仲 銓) (D2.2):

D3.2.4 DƯƠNG TRỌNG HOE, giổ ngày 19/9, mộ táng thôn Bàu Vạn (Yên Thế), thổ phụ vệ Bụt xứ. Vợ là Nguyễn Thị Điều, giỗ ngày 16/7, mộ táng tại ruộng mạ xóm Thượng. Sinh 1 nam, 2 nữ:
D4.24.1 Trưởng nữ Dương Thị Bát lấy ông Thái Văn Khuê người cùng thôn, mộ táng ở Bào Quan xứ, giỗ ngày 8/12.
D4.24.2 Dương Thị Chu lấy ông Nguyễn Thái L cùng thôn, Nguyễn Thái Tắc thờ cúng;
D4.24.3 Nhất nam: Dương Trọng Trung.

D3.2.5 DƯƠNG TRỌNG HOÀ, tự Trọng Miễn, giổ ngày 16/10, mộ táng tại ruộng mạ đồng Nắc (phía nam cầu sông Đào). Vợ Thái Thị Cử người cùng thôn. Giổ ngày 26/8. Mộ táng ở thổ phụ đồng Nắc xứ, sinh 5 trai, 2 gái:
D4.25.1 Trưởng nam Dương Trọng Dư (cố Mậu);
D4.25.2 Dương Trọng Cúc (cố Đuyến);
D4.25.3 Dương Trọng Tiến ( cố Túc), vô tự;
D4.25.4 Dương Trọng Uyên, tự trọng Duân;
D4.25.5 Dương Trọng Khai tự Trọng Vồng
Hai con gái không thấy ghi tên trong gia phả

THỨ THỨ CHI CAN CẦU - TRI MỸ CHI

Nhất nam của thứ thứ nam Dương Trọng Cầu D2.3 (揚 仲 俅)

D3.3.3 DƯƠNG TRỌNG NĂNG: Trưởng Chi tộc can Cầu- Tri Mỹ Chi, giổ ngày 20/7 không rõ năm. Mộ can Cầu sau này đã chuyển về trước Nghiã Trang Chi tộc Can Thuyên. Con 1 trai 6 gái:
D4.33.1 Dương Thị Dục;
D4.33.2 Dương Thị Thị lấy chồng người cùng làng;
D4.33.3 Dương Thị Hệ lấy chồng về xã Xuân Sơn;
D4.33.4 Dương Thị Khang lấy ông Thái Văn Thái;
D4.33.5 Dương Trọng Kiện;
D4.33.6 Dương Thị Hoà, chồng Nguyến Đình Thương;
D4.32.7 Dương Thị Thuỳ, chồng Thái Doãn Viên;

Đời Thứ 4. Thứ thứ Chi Can Cầu- Mỹ Tri Chi

Nhất nam của cụ Dương Trọng Năng D3.3.3:

D4.33.5 DƯƠNG TRỌNG KIỆN (giỗ 13/11): là Tộc Trưởng chi Tri Mỹ đời thứ 4, Chính thất Thái Thị Đình, á thất Thái Thị Duệ, có 3 nam 1 nữ :
D5.335.1 Dương Thị Liễu (bà Cửu Liệu), chồng Nguyễn Cảnh ở xóm Mọi; nhà dàu có, quyền thế, Mẹ ông Tuần Thuộc, ông Tráng là cháu;
D5.335.2 Dương Thị Đượi (bà Đồ Đượi), lấy chồng làm Lý Trưởng làng Yên Lại, Hòa Sơn;
D5.335.3 Dương Thị Nhiếp (bà Cửu Nhiếp); lấy chồng vê xóm Chùa, là mẹ cố Xin Nhàn; ông Chương Bửu, bà của bà Thanh Miêng
D5.335.4 Dương Thị Hiệu (bà Cửu Hiệu), lấy chồng về xóm Mọi, nhà dàu có là mẹ cố Sâm Long;
D5.335.5 Dương Trọng Thiện;
D5.335.6 Dương Trong Ngoãn

Đời Thứ 5. Thứ thứ Chi Can Cầu- Mỹ Tri Chi

Con trai cụ Dương Trọng Kiện D4.33.5:

D5.335.5 DƯƠNG TRỌNG THIỆN (……): tộc trưởng Thứ thứ Chi, đời thứ năm. Nhà dàu có. Vợ Chính thất Thái Thị Đình, vợ á thất Thái Thị Duệ. Có 3 con trai, 1 gái:
D6.3355.1 Dương Trọng Uyển (vô tự);
D6.3355.2 Dương Trọng Xuyến;
D6.3555.3 Dương Trọng Tiến: vô tự
D6.3355.3 Dương Thị Thuyến, chồng Thái Khắc Nhiên (mẹ ông Nguyên)

D5.335.6 Dương Trọng Ngoãn: vợ Thái Thị Thân, có 2 con bị chết đói trong nạn đói năm 1945:
D6.3356.1 Dương Trọng Mãn chết đói năm 1945
D6.3356.2 Dương Trọng Nhiên, chết đói năm 1945

Đời thứ 6. Thứ thứ Chi Can Cầu- Mỹ Tri Chi

Con trai ông Dương Trọng Thiện D5.335.5:

D6.3355.2 DƯƠNG TRỌNG XUYẾN (….): chi trưởng đời thứ 6. Nhà nghèo, đi làm thuê. Vợ Thái Thị Lực quê Thanh Chương cũng là người làm thuê. Có 2 con:
D7.33552.1 Dương Trọng Lịch;
D7.33552.2 Dương Thị Hợi (1935), nhà nghèo, bố mẹ phải bán về Yên Thành làm con nuôi. Năm 1953 về sống cùng mẹ là bà Lực. Sau lấy chồng về Đà Nẵng là bộ đội miền nam tập kết, Công nhân nông trường, cư trú tỉnh Quảng Nam

Đời thứ 7. Thứ thứ Chi Can Cầu- Mỹ Tri Chi:

Con trai ông Dương Trọng Xuyến D6.3355.2:

D7.33552.1 DƯƠNG TRỌNG LỊCH (1932-2015): bộ đội Miền Nam, sau hiệp định Giơnevơ 1954, tập kết ra bắc vĩ tuyên 17, học nghề Y sỹ, công tác tại nông trường ở Hà Tĩnh. Vợ Trần Thị Cam, quê Nam Kim, Nam Đàn rồi đưa về quê ở trong căn nhà nhỏ cạnh nhà Bà Thơn. Năm 1976 chuyển ra Nông trường Yên Định Thanh Hóa. Năm 1983 về quê không còn nhà vì HTX nông nghiệp đã chuyển giao cho nhà cho bà Thơn. Ông bà phải quay về Yên Định, Thanh Hóa. Năm 2015 ông Lịch qua đời bà Trần Thị Cam được các con đưa ra Hà Nội. Ông bà có 05 con:
D8.335521.1 Dương Thị Khanh;
D8.335521.2 Dương Trọng Công Tưởng;
D8.335521.3 Dương Trọng Tiên Niệm;
D8.335521.4 Dương Trọng Công Lý

Đời thứ 8. Thứ thứ Chi Can Cầu- Mỹ Tri Chi:

Con trai ông Dương Trọng Lịch D7.33552.1:

D8.335521.2 DƯƠNG TRỌNG CÔNG TƯỞNG (….): tốt nghiệp Đại học xây dựng Hà Nội. Vợ Thân Thị Thanh Hằng. Có các con:
D9.3355212.1 Dương Minh Việt Đằng (2000): du học tại Hoa Kỳ (USA):

D8.335521.3 DƯƠNG TRỌNG TIÊN NIỆM (… ): Đại học kinh té quốc dân Hà Nội. Vợ Nguyễn Thị Hương, bác sỹ, quê Bắc Giang, có các con::
D9.3355213.1 Dương Trọng Đức Dĩnh (1997):
D9.3355213.2 Dương Bích Trà:

D8.335521.4 DƯƠNG TRỌNG CÔNG LÝ (…): Đại học thương mại Hà Nội. Vợ Vũ Thu Hương, quê Đà Nẵng. Sau khi vợ mất, gia đình định cư tại USA. Có các con:
D9.3355214.1 Dương Vũ Hà An (2002):
D9.3355214.2 Dương Vũ (2008):

Đời thứ 9. Thứ thứ Chi Can Cầu- Mỹ Tri Chi:

Con trai ông Dương Trọng Công Tưởng D8.335521.2:

D9.3355212.1 DƯƠNG MINH VIỆT ĐẰNG (….):

Con trai ông Dương Trọng Tiên Niệm D8.335521.3:

D9.3355213 DƯƠNG TRỌNG ĐỨC VĨNH (….):

Con trai ông Dương Trọng Công Lý D8.335521:

D9.3355214.1 DƯƠNG (…..):

D9.3355214.2 DƯƠNG VŨ (2008)::

Một điều cần ghi lại: Cụ Dương Trọng Năng là con út của Cao tổ Dương Công Cơ, Thủy tổ Họ Dương Trọng ở Thịnh Sơn. Lúc sinh thời cụ Năng giàu có, nhưng con trai Dương Trọng Thiện kế nghiệp bị phá sản. Ông Dương Trọng Ngoạn là em trai ông Thiện có 2 con trai: Trọng Mãn, Trọng Nhiên bị chết đói năm 1945. Trong khi bốn Cô Liệu, cô Đượi, cô Hiệu và cô Nhiếp là chị ruột của cha, đều làm dâu nhà dàu, quyền quý mà không giúp được 2 cháu khỏi chết đói, rất đau xót. Thứ thứ Chi Can Cầu nghèo khó, gian nan nhất, có 2 người cháu bị chết đói năm 1945, trong Chi họ có nhiều người vô tự hoặc hiếm muộn. Ông Dương Trọng Lịch và bà Trần Thị Tam là đời thứ 7. Thời còn trẻ phải bôn ba xa quê, khi lập gia đình cũng ở nơi đất khách quê người, phải lăn lộn, gian khổ nuôi con, Năm 2005 khi ông Lịch qua đời được các con lo nơi an giấc ngàn thu rất chu toàn. Vợ ông Lịch được các con đưa ra Hà Nội chăm sóc nuôi dường tuổi già. Các con của ông Lịch cũng trải qua một thời gian nan, sống dưới gầm cầu Long Biên để kiếm sống, học tập và lập nghiệp nay cũng thành đạt, các con ông đếu tốt nghiệp Đại học chính quy có 1 con du học ở Mỹ và 1 con định cư tại Hoa Kỳ. Nay các con cháu đều trưởng thành, cha mẹ có thể tự hào cũng là tấm gương cho con cháu họ Dương vượt khó, vượt khổ để lập nghiệp.

Ghi chú: 1. Các chức danh của các bậc tiên tổ thời Phong kiến thuộc Pháp trước năm 1945 ghi trong gia phả:
- Về chức danh quản lý làng xã: Từ thời nhà Nguyễn (1824- 1883) sau khi Vua Gia Long thống nhất đất nước chính quyền trung ương chỉ quản cấp phủ và huyện, trao quyền cai tổng, phó tổng do các làng bầu. Năm 1904, thực dân Pháp tổ chức “Ban Hội Tề” (còn gọi là Hội đồng làng) có các chức vụ: Hương cả, Hương chủ, Hương sư, Hương trưởng, Hương chánh, Hương giáo, Hương quản, Hương bộ, Hương thân, Xã trưởng, Hương hào…Ở Trung Kỳ, năm 1942, Triều đình Huế thành lập Hội đồng Kỳ hào, cơ quan chấp hành là Lý trưởng, Phó lý, Ngũ hương. Bộ máy quản lý làng, xã: Chánh hội, Phó hội, Lý trưởng, Khán thủ, Trương tuần, Phó lý, chưởng bạ, trị bạ, hộ lại; thư ký, thủ quỹ do dân bầu, không do quan trên bổ nhiệm;
- Phường: là tổ chức phường nghề như Phường vải, Phường nề, phường mộc,
- Hội tư văn: là môt tổ chức xã hội của kẻ sỹ dân quê học chữ nho, có các chức danh Hội trưởng, Điển văn, Tả văn do hội bầu chọn
- Hội hương binh: là hội các cựu chiến binh làng, xã đứng đầu là Hội trưởng
- Giáp: Là hội dựa trên quan hệ tuổi tác, tiến thân bằng tuổi tác, gọi là “Xí tác” theo nguyên tắc “trọng xí” được năng dần theo tuổi tác, như già làng ở các dân tộc miền núi
2. Tham khảo các đia danh thời Pháp thuộc trong Gia phả bản chữ Hán
Theo sách Tên làng xã Việt Nam đầu thế ký XIX, danh xưng Đô Lương có từ năm 1831. Đô Lương là một Tổng thuộc huyện Nam Đường, phủ Anh Đô. Phủ Anh Đô gồm có 2 huyện: Nam Đường và Hưng Nguyên. Huyện Nam Đường: gồm có 8 tổng, 90 xã, thôn, phường, trại, sách, giáp, vạn, đó là:
- Tổng Đô Lương gồm 24 xã, thôn, giáp:
+ Đô Lương (xã): thôn Cẩm Hoa Thượng, thôn Cẩm Hoa Đông, giáp Nghiêm Thắng, giáp Duyên Quang, thôn Đông Trung, thôn Hoa Viên, thôn Phúc Thị.
+ Đại Tuyền (xã): thôn Phúc Thọ, Đông Am, giáp Trung An, thôn An Thành
+ Bạch Đường: thôn Nhân Trung, thôn Phúc Tuyền, thôn Phúc An, thôn Nhân Bồi, thôn Miếu Đường.
+ Diêm Trường: thôn An Tứ, Bỉnh Trung, Chấp Trung
+ Phường Thiên Lý, thôn Vĩnh Trung, phường Hồng Hoa, phường Duy Thanh.
- Tổng Lãng Điền: Xã Lãng Điền, Mặc Điền, Tào Nguyên, thôn Vạn Hộ, Cấm An, An Lương, vạn Lãng Điền, Mặc Điền, sách Tào Giang.
- Tổng Thuần Trung: gồm các thôn: Thuần Trung, Tràng Bộc, Yết Nghi, Phật Kệ, Sơn La. - Tổng Bạch Hà: Xã Bạch Hà, Nhân Luật, Lưu Sơn, Thanh Thủy, Đào Ngoã.
- Tổng Non Liễu: 20 xã, thôn, giáp: Non Liễu, Yên Lạc, Thanh Tuyền, Non Hồ, Vân Đồn, Chung Giáp, Thượng Hồng (thôn).
- Tổng Lâm Thịnh; - Tổng Đại Đồng; - Tổng Hoa Lâm

Cập nhật 01 tháng 05 năm 2025

Dương Trọng Bảng thế tôn Trưởng nam Can Phiên đời thứ 7

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét