Thứ Bảy, 27 tháng 3, 2021

BẢNG VÀNG GHI CÔNG

ĐÓNG GÓP XÂY DỰNG TỪ ĐƯỜNG PHÁI CHI CAN PHIÊN

Nhà thờ Chi can Phiên là đất hương hỏa của các con cháu Can Phiên, khởi thủy là ngôi nhà gỗ 1 gian hai hai hồi lợp ngói âm dương nằm trong khuôn viên đất sử dụng chung của ông Dương Trọng Phác sau này là trưởng nam Dương Trọng Mẫu. Đến nhứng năm 1956-1957 vào giai đoạn cải cách ruộng đất, các nhà thờ đình chùa bị phá hủy, chi tộc đã bán nhà thờ. Trong những năm 1975 - 1990 chi tộc thờ phụng tổ tiên trong nhà thờ của ông Dương Trọng Mậu

Năm 2000 anh em trong chi tộc đóng góp xây 1 nhà thờ 1 gian 2 hồi bằng gỗ phía đông khuôn viên đất của ông Dương Trọng Mậu. Trong việc xây dựng nhà thờ họ giai đoạn này có sự đóng góp của ông Dương Trọng Đức và ông Dương Trọng Đào

Đến năm 2010, với sự thống nhất cao của chi tộc có sự đóng góp lớn của ông Dương Trọng Thiết, Dương Trọng Tư và Dương Trọng Tuấn. Riêng ông Tuấn góp một phần bằng tiền, có đóng góp bằng đất quy ra bằng tiền là 200 triệu đồng với diện tích 200 m2 đất ( rộng 14 m và sâu 18m), công trình được hoàn thành vào năm 2011.

Sau đây là sự đóng gọp của các cá nhân trọng Chi tộc:
- Dương Trọng Thiết: 400.000.000 đồng;
- Dương Trọng Tư: 400.000.000 đồng và Tắc môn bằng đá trắng tự nhiên Quỳ Hợp;
- Dương Trọng Tuấn: 200.000.000 đồng và 200 m2 đất vườn;
- Dương Trọng Đức: Com bo bộ lư hương bằng đồng

(Đang tiếp tục cập nhật)

Thứ Hai, 22 tháng 3, 2021

BẢN DỊCH CHỮ NHO GIA PHẢ HỌ DƯƠNG SANG CHỮ QUỐC NGỮ

BẢN CHỮ NHO: 楊 仲 家譜日曆

Bản chữ nho “Dương Trọng lịch thế gia phả” do các bậc tiền bối trong họ tộc thông thạo chữ Nho ghi chép trước năm 1945 thời kỳ phong kiến thuộc Pháp. Cửa Giáp Chi Trưởng có cụ Dương Trọng Xân (1882-1937) con thứ cụ Phó Tiệp (Phó Bảng) là thầy Xân dạy chữ Nho khởi xướng viết gia phả. Cụ Dương Trọng Khoan (thầy Mày) ở Cửa Giáp có biết chữ nho nhưng mất sớm, gửi con Dương Trọng Lạc cho ông ngoại Bang Hiên ăn học, thông hiểu chữ nho viết tiếp. Thời gian này ông Trọng Tỏng em ruột ông Trọng Khoan lên làm Tộc trưởng để phụng tự, quản lý ruộng đất hương hoả và lưu giữ bản Gia phả chữ nho đầu tiên. Thời kỳ Cải cách ruộng đấtt (1950-1955), Dương Trọng Tạo con ông Tỏng là phú nông cất giấu gia phả sợ bị đội “Cải cách Ruộng đất” trịch thu. Sau này con ông Tạo là ông Tâm Tuyền (1923 - 2004) đi bộ đội Nam Tiến từ năm 1946 về quê tìm thấy bản Gia phả chữ nho trên mái nhà do cha mình cất dấu và được lưu truyền lại cho đến nay tại Trưởng Tộc đại tôn

Năm 1995 ông Dương Quốc Bắc Tộc trưởng đời thứ 9 nhờ ông Dương Trọng Dật nguyên chủ tịch UBHC tỉnh Nghệ An là một người con cùng chung thê tổ nguyên quán ở Cao Hương, Thiện Bản. Nam Định nay là xã Liên Bảo huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định dịch Bản gia phả từ tiếng hán sang tiếng Việt

BẢN DỊCH CHỮ QUỐC NGỮ GIA PHẢ HỌ DƯƠNG

(Tr.1)

Nguyên quán ngã tổ họ Dương: Tỉnh Nam Định, phủ Nghĩa Hưng, huyện Thiện Bản, xã Cao Hương, thôn Giáp.

Tám đời trước: nhà ở Bản Quán, sau chuyển sang Lãng Điền phường.

Đời tổ thứ 6: lại quay về Bản Quán, con cháu tụ hội đông đúc phát triển ở đất đó

Cao tổ Dương Công Sùng: tự Bảo Dung Tiền triều Mạc Đại Chính Ất tỵ khoa, đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân Hưng Hoá đạo, Thừa tuyên xứ, tán trị Thừa chính sứ ty, Hình bộ tả thị lang, Diên hà Bá, tự Ngọc Xân, thuỵ Văn Ý Dương tướng công

Thượng tổ Thiên Nam đạo, Hoằng tín đại phu, Chiêu văn quán, nho sinh Dương Tiên Sinh: Tổ bà nhu nhân thần vị, Đại phú thanh hình, kiến ty quan kiêm nho sinh học sỹ, người bản tộc Cao Hương tên là Cố, ở đạo Thiên Nam cũ, có đền thờ ở Cao Huơng

Tiền Lê triều Quốc Tử Giám, giám sinh Dương quý công, tự Trọng Miễn: tiên sinh, cụ tổ bà nhu nhân thần vị

Lê triều Thái Hoà Quốc Tử Giám, giám sinh Dương quý công tên chữ Cẩn Định: tiên sinh, cụ tổ bà nhu nhân thần vị. Nguyên hai Tiên sinh (Trọng Miễn và Cẩn Định) qua bao đời xa xưa không rõ sự tích. Đến triều Tự Đức vào năm Đinh Sửu (1877) bản thôn lập cầu khoa đàn, nhờ tiên đồng chỉ phán triệu hồn trợ táng, chỉ rõ mộ hai tiên sinh sang táng tại ruộng mạ trên gò cao Quan xứ,

(Tr.2)

Cựu triều Phấn lực Đại tướng quân Dương Tướng Công tự Văn Xán: tiên sinh, Tổ bà nhu nhân thần vị

Cao tỏ đời thứ 10 Dương Nhất Lang: (tên chữ không rõ), giỗ ngày 11/2. Cao Tổ tỷ Nguyễn Thị Giám (Lãm) giỗ ngày 5/1 mộ cùng táng tại xã Cao Hương,

Cao tổ đời thứ 9 Dương Viết Tiêu: tư Thiện Tâm. Giổ ngày 5/2. Tổ bà chính thất Đậu Thị Trà nhu nhân thần vị, mộ táng tại xóm Yên Lại, địa phần vườn Đông, giỗ ngày 16/1

Cao tỏ đời thứ 8: Dương Công Bình: tự Chính Phúc, Mộ táng tại xóm Quan Nội, Đồng Lại xứ. Giổ ngày 19/2. Tổ bà Phùng Thị Yên hiệu Từ Diệu nhu nhân thần vị, Mộ táng tại Quan Nội thôn, Quần Lại xứ. Giỗ ngày 5/11. Cao tổ vốn ở xã Cao Hương, có 4 gái và 1 trai hiệu Dương Công Minh mang cả mộ cha mẹ cùng vợ con di cư sang xã Lạng Điền. Mộ táng tại Bàu Vạn Thôn. Giỗ ngày 4/3

Cao tổ đời thứ 7: Dương quý công Dương Công Minh: tự Lệnh Lang là người hiền lành, giỏi nghề buôn bán. Mộ táng thôn Bàu Vạn địa phận quần tri xứ thôn Quế thu điền, giổ ngày 4/3.

(Tr.3)

Tổ bà chính thất Trần Thị Đạm: hiệu Từ Tiên Nhu Nhân mộ táng xứ Đồng Kiện ruộng mạ của ông Thái Phú Can, giổ ngày 16/4. Cao tổ khảo vốn sinh tại xóm Quan Nội phiêu bạt tới xã Lãng Điền tạo lập gia đường thành tiểu phú, sinh được 4 trai 3 gái, đến năm Nhâm Dần (1782) lũ lụt lớn chuyển về Đông Thành xã Yên Lăng, làng Quan Nội, xóm Thượng, thiết lập hương hoả thành nhà buôn lớn, các con kế hậu:

Trưởng nam Dương Công Hưng, tự Trọng Thông, sinh ở Lãng Điền, không rõ tông tích phần mộ.

Thứ nam Duơng Công Lâm, tự Công Cơ tức Cao tổ họ Dương ở Thịnh Sơn

Thứ thứ nam: Dương Công Thuật (Vệ) mất sớm, giỗ ngày 21/1, mộ táng ruộng mạ đông xóm Thượng

Con trai út: Dương Công Lý, mất sớm. giổ ngày 16/6, mộ táng tại đông hậu xóm Thượng

Con gái đầu: Dương Thị Kính do con cháu Thài Doãn Thực thờ cúng; Thứ nữ: Dương Thị Tín không rõ tung tích; Con gái út Dương Thị Luật mất sớm, giỗ ngày 22/7 mộ táng tại ruộng mạ xóm Thượng

Đời thứ 6: Cao tổ khảo tiền tiến công, thứ lang, tên chữ Dương Công Cơ: (揚 仲 機).Sinh năm Nhâm Thìn (1772), giỗ ngày 13/2. Giỏi về nghề ghi chép sổ sách. Mộ táng tại Yên Lăng, đồng Nhà Thánh. Cao tổ tỷ Trần Thị Hằng, huý Thị Bằng, hiệu Từ thuận nhu nhân thần vị. Giỗ ngày 18/1. Mộ táng tại Làng Quan Nội, Đông xóm Thượng, Quyết Điền xứ tọa Tý hướng Ngọ. Thân sinh cụ Công Cơ vốn ở xã Lãng Điền, có một thời gian xa quê lấy vợ rồi quay về quê cũ của Tổ ở xã Yên Lăng, thôn Quán Nội, xóm Thượng lý. Cụ ông bị bệnh mất sớm, cụ bà một mình nuôi con, tạo được ruộng ao vườn chia làm 3 phần có di chúc. Cao tổ sinh 3 nam 1 nữ:

Trưởng nam Dương Trọng Hướng (揚 仲 珦) - huý Trọng Dong (仲 瑢)tên chữ là Trọng Dung (1804 -1876);

(Tr.4)

Thứ nam Dương Trọng Thuyên (揚 仲 銓), tự Trọng Uổng, huý Trọng Toàn, tên chữ Quang Cảnh phu quân, sinh năm Đinh Mão (1807):

Nam thứ ba huý Trọng Thứ (揚 仲 庶) phu quân, tự Trong Châu, sinh năm Kỷ Tỵ (1809)

Nhất nữ: Dương Thị Đẩu (揚 氏 斗) là em gái Dương Trọng Hướng, lấy chồng Lê Nhâm nhưng không có con nên phần ruộng của bà Đẩu được chia lại 3 phần cho 3 chi. Mộ táng ở ruộng mạ Quyết Điền, hậu xóm Thượng. Giỗ ngày 13/8 (Năm mất năm sinh không rõ, nhưng là em ông Hướng nên nội suy sinh cuối năm 1805 hoặc đầu năm 1806). Lăng Tổ bà Dương Nhất Nương hiệu Anh Linh Thần vị tại Làng Quan Nội bắc xóm Thượng

Đời thứ 5:(3 con trai cao tổ Dương Công Cơ):

Trưởng Nam: Dương Trọng Hướng (揚 仲 珦)- huý Trọng Dong (仲 瑢)tên chữ là Trọng Dung, sinh năm giáp tý (1804), Mất năm Bính Tý (1876), giổ ngày 4/6. Mộ táng ruộng mạ góc đông nam xóm Thượng. Khi còn trẻ biết y dược, địa lý chuyên làm ân huệ có tiếng trong làng, thừa hưởng cơ nghiệp của ông cha, trở thành cự phú, ruộng có 2 mẫu, vườn 3 sào, ruộng làm rẹ 3 sào đã khai sáng xây dựng nên từ đường Họ Dương thôn thượng hoàn thành vào năm Tự Đức Canh Thìn (1880. Ruộng đất hương hoả chia có chúc thư. Vợ chính là Lê Thị Hằng (Thị Điềm), nhị huý Thị Thân, hiệu Từ tính tốt, sinh năm Mậụ Dần (1818), là người cùng thôn sinh được 2 trai 6 gái, giỗ ngày 21/10. Mộ táng tại Thế Thế văn xứ Tiên Ông là nơi phúc địa (phía sau động Cao xã Bài Sơn- Đô Lương). Vợ hai là Phạm Thị Thân nhu nhân, người xã Cao Xá, sinh được 1 trai, 1 gái lập gia đình ở thôn Quán Nội, điếm Thượng sinh 1 con gái. Mất ngày 14/6 Mộ táng ở Đồng Nắc, thôn Bàu Vạn, tại ruộng mạ ông Nguyễn Xuân Giật, đông xóm Thượng. Cụ Hướng có 3 nam 7 nữ:

2. Thứ nam Dương Thứ công huý Trong Thuyên, tự Quang Cảnh Phu Quân, trước làm lý trưởng kiêm chức Trị sự

3. Thứ thứ nam tiền tiến công thứ lang: biết xem tướng, chức Tri bạ, Dương quý công huý Trọng Cầu phu quân, vợ chính thất Nguyễn Thị Lăng, á thất Trần Thị Tiêu nhu nhân

Tổ thúc Dương Trọng Thông thần quỷ, Dương Công Lý thần quỷ

(Tr. 5)
- Tổ thúc phó đô sứ Dương Công Thuật thần quỷ
- Tô cô Dương Thị Tín, Dương Thị Luật thần quỷ

Tằng tổ khảo trước thi vào Tướng sỹ, làm chức Tri bộ ở điện Thừa Hoa Dương Trưởng công, huý Trọng Đỉnh phu quân, vợ chính Thái Thị Kế, vợ hai Trần Thị Diên, vợ kế Trần Thị Sâm nhu nhân
- Tổ thúc Dương Trọng Thông thần quỷ, Duơng Công Lý thần quỷ

Tằng tổ khảo: trước là lý trưởng, Trưởng ban Hương mục kiêm Trùm chức cai xã, huý Trọng Hanh 揚 仲 珦 phu quân, vợ là Thái Thị Nhàn nhu nhân
Tổ cô Dương Thị Thuật thần vị; Dương Thị Vĩnh thần vị

Tằng tổ khảo huý Trọng Hoa: là Trưởng đề trong quân ngũ, được hưởng chức quan viên. Vợ Nguyễn Thị Điều nhu nhân

Tằng tổ khảo huý Trọng Đường phu quân: là thủ hộ. Vợ Nguyễn Thị Ư nhu nhân

Tằng tổ khảo huý Trọng Quỳnh: tên chữ là Quang phu quân, vợ Phan Thị Trưởng nhu nhân

Hiển tổ khảo Trọng Thư: tên chữ Trọng Tân phu quân, làm chức Tri Hương. Vợ Thái Thị Nghị nhu nhân

(Tr.6)

Tổ cô Dương Thị Cư thần vị

Hiển khảo Dương lệnh công, huý Trọng Phiên (揚 仲 幡): (Trong Lang) (仲 琅), tên chữ là Quang Diệu, Trọng Lang, thuỵ Minh Duệ, hiệu Liên Đình. (Trọng Phiên) là người có học đã thi đậu nhị trường Khoa Mậu Ngọ (1858) và Khoa Giáp Tý (1864) nhưng không ra làm quan. Là trùm lệnh bản xã, thông lệnh bản thôn, trùm giáp, trùm lý, thông hiểu y lý. Tổ bà chính thất Thái Thị Hạnh, vợ hai huý Thái Thị Tấn hiệu trinh thuận nhu nhân là người thôn Thượng Giáp, xã Nhuận Trạch, Tiên nông cùng Tổng.

Hiển Khảo Dương Trọng Khuê (揚 仲 刲): thuỵ Văn Ngọc Phu Quân, làm lý trưởng kiêm văn lệnh, tri lệnh chức Dương Thứ Công. Vợ chính Thái Thị Hành, vợ 2 Thị Toàn hiệu trinh thuận nhu nhân

Hiển tổ khảo Dương Trọng Hoán phu quân: làm lý trưởng, tri hương kiêm thông lệnh hộ, cai xã chức. Vợ Thái Thị Ái nhu nhân

Hiển tổ khảo Dương Trọng Hoà: tên chữ Trong Miễn phu quân, làm lý trưởng, chức quan viên kiêm trùm lý. Vợ Thái Thị Cử nhu nhân

Hiển tổ khảo Dương Trọng Năng (nam thứ 3) Dương Quý công phu quân, làm lý trưởng, thông binh kiêm tri hộ. vợ Nguyễn Thị Sao nhu nhân’

Hiển tổ khảo Dương trưởng công, huý Trọng Châu: tên chữ Ngọc Phủ phu quân, làm biên lại trong quân đội kiêm trùm lệnh bản thôn, sau làm lý trưởng tuần mục, chức quan viên kiêm trùm lý. Vợ Thái Thị Sâm nhu nhân

(Tr.7)

Hiển khảo Dương thứ công, huý Trọng Chương: tên chữ Trong Tảo phu quân, là lý trưởng kiêm chức tri hương cai xã Vợ chính Phan Thị Hạnh, vợ hai huý Thị Tình hiệu trinh thuận nhu nhân;

Hiển khảo thứ nam Dương Trọng Chiêu: thuỵ chất trực phu quân, la trưởng đề trong quân ngũ, đội trưởng bát phẩm ở Nghệ An, tri hương bản thôn kiêm Lý thông Binh chức. Vợ chính Nguyễn Thị Kiêm, vợ hai Nguyễn Thị Tố hiệu trinh thuận nhu nhân;

Hiển khảo Thứ nam Dương Trọng Chấn: thuỵ mận trực phu quân, làm là Lý trưởng Tuần mục kiêm sở chánh quản đoàn, cai xã đoàn, cai trùm xã thông lệnh chức, mẫn trực phu quân, Vợ chính Thái Thị Quang, vợ hai Nguyễn Thị Tố hiệu trinh thuận nhu nhân;

Hiển khảo thứ nam Dương Trọng Cẩn: thuỵ chất phác phu quân, vợ chính Thái Thị Hành, vợ hai huý Thị Thiệu hiệu trinh thuận nhu nhân;

Hiển khảo thứ thứ nam: Dương Trọng Quyền: thuỵ cương trực phu quân, vợ chính Thái Thị Vượng hiệu Từ thuận nhu nhân;

Hiển tý : thay chức vụ của chồng làm trùn họ bản tộc, trùm lý bản lý cung bản thông Đoài giáp trùm giáp văn lệnh và thủ chỉ từ đường. 80 tuổi và 90 tuổi được dân tặng văn bằng là vợ chính của thứ nam Dương Trọng Vinh vợ hai là Thị Tín hiệu từ thuận nhu nhân

Hiển tổ khảo thứ nam Dương Trọng Chương: tên chữ Trong Tảo phu quân, Vợ chính Phan Thị Hạnh, vợ hai huý Thị Bình hiệu, trinh thuận nhu nhân;

Hiển khảo Thứ nam: Dương Trọng Chiêu: thuỵ chất trực phu quân, la trưởng đề trong quân ngũ, đội trưởng bát phẩm ở Nghệ An, tri hương bản thôn kiêm Lý thông Binh chức. Vợ chính Nguyễn Thị Kiêm, vợ hai Nguyễn Thị Tố hiệu trinh thuận nhu nhân;

Hiển khảo Thứ nam: Dương Trọng Chấn: thuỵ mận trực phu quân, làm là Lý trưởng Tuần mục kiêm sở chánh quản đoàn, cai xã đoàn, cai trùm xã thông lệnh chức, mẫn trực phu quân, Vợ chính Thái Thị Quang, vợ hai Nguyễn Thị Tố hiệu trinh thuận nhu nhân;

Hiển khảo Thứ nam: Dương Trọng Cẩn: thuỵ chất phác phu quân, vợ chính Thái Thị Hành, vợ hai huý Thị Thiệu hiệu trinh thuận nhu nhân;

Hiển khảo thứ thứ nam: Dương Trọng Quyền: thuỵ cương trực phu quân, vợ chính Thái Thị Vượng hiệu Từ thuận nhu nhân;

Hiển tý : thay chức vụ của chồng làm trùm họ bản tộc, trùm lý bản lý cung bản thông Đoài giáp trùm giáp văn lệnh và thủ chỉ từ đường. 80 tuổi và 90 tuổi được dân tặng văn bằng là vợ chính của thứ nam Dương Trọng Vinh vợ hai là Thị Tín hiệu từ thuận nhu nhân

(Tr.8)

Hiển khảo thứ nam Dương Trọng Hồ: tự Trọng Ban, thuỵ Minh Mẫn phu quân là người có học, đã đi thi, biết y dược địa lý, làm việc ân huệ trong bản lý, trùm lý, giữ chức cai thôn, vợ cả Thái Thị Hành, vợ hai huý Thị Đặc hiệu từ thuận nhu nhân;

Hiển khảo thứ nam: Dương Trọng Anh: tự Mỹ ngọc Minh Đạt phu quân là Trùm Lý, làm tri hương bản thôn, 4 đời ở chung Dương Mạnh Đường

(Tr.9)

Hiển khảo thứ nam: Dương Trọng Giác: thuỵ chất trực phu quân, là trưởng đề trong quân ngũ, làm hương sắc bản thôn, võ hội thông binh kiêm chức tri lý. Hiển tỷ Nguyễn Thị Hành thọ trên 70 tuổi, vợ thứ 4 huý Thị Dinh từ thuận nhu nhân;

Hiển khảo Dương quý công huý Trọng Đôn: thụy cẩn hậu phu quân trước làm Lý trưởng, là trùm Lý, trùm họ, trùm hội thông binh, hương hiệu chức, thọ trên 60 tuổi. Hiển tỷ Dương chính thất Thái Thị Đoài, vợ hai Hoàng Thị Đích hiệu từ thuận nhu nhân

Hiển khảo trưởng nam: Dương Trọng Doãn: thụy cương nghị phu quân, là Lý trưởng, làm tri lý bản lý, bản thôn thông binh hương kiểm, kiêm bản khoán cai khoán chức thọ trên 66 tuổi. Hiển tỷ vợ cả Thái Thị Hành, vợ hai huý Thị Thặng từ thuận nhu nhân;

Hiển khảo thứ nam: Dương Trọng Tư phu quân: trước làm Lý trưởng, trùm họ giữ chức Tuần thôn

Hiển khảo Dương Lệnh Phủ huý Trọng Quân: tự Thứ Ngọc hiệu Liên hồ dật khách phu quân. Trước làm lý trưởng, trùm lý, binh hộ bản xã dữ chức Phó tổng dũng bản tổng Dương Lệnh Phủ. Hiển tỷ vợ cả Thái Thị Hành, vợ tiếp huý Thị Trần, vợ lẽ Thái Thị Chính hiêu từ thuận nhu nhân

(Tr.10)

Hiển khảo Dương Trọng Chương : thuỵ chất trực phu quân, làm Lý trưởng, trùm binh bản thôn, kỳ văn trùm giáp, hiệp trưởng trưởng hội kiêm tuần mục, giữ chức cai khoán trùm xã, thủ chỉ làng, thọ trên 80 tuổi. Vợ chính Trần Thị Huân, hiệu từ thuận nhu nhân

Hiển khảo huý Trọng Túc: chất trực phu quân, là xã Trưởng kiêm chức Tri lý, thọ tai vẫn nghe tốt. Vợ cả Thái Thị Thời, vợ hai Thái Nguyễn Thị Thuận nhu nhân

Hiển tổ khảo huý Trọng Uyên: thuỵ cương trực phu quân, là Lý Trưởng, tuần thông tuần lý võ hội thông binh giữ chức cai xã tuần khoán, thọ tai vẫn nghe tốt. Hiển tổ tỷ chính thất Thái Thị Hành, vợ hai Thị Phiệt, hiệu trinh thuận nhu nhân

Hiển tổ khảo huý Trọng Khai: cẩn chất phu quân, là Lý Trưởng, trùm lý, trùm giáp, trùm hộ chức, thọ 72 tuổi. Hiển tổ tỷ chính thất Thái Thị Hành, vợ ba huý Thị Đức hiệu từ thuận nhu nhân

Hiển tổ khảo huý Trọng Kiện: cẩn chất phác phu quân, là Lý Trưởng, võ hội thông binh. Hiển tổ tỷ chính thất Thái Thị Đình, vợ hai Thái Thị Duệ từ thuận nhu nhân

Hiển tổ khảo Dương Thứ Công: huý Trọng Ngoạn trước làm lý trưởng, thông binh chức, hiệu cương kính phu quân. Hiển tỏ tỷ Nguyễn Thị Tính, hiệu nhu nhân

(Tr.11)

Hiển tổ khảo (trưởng nam) Dương Trọng Hoan: cẩn văn duyệt phu quân, làm quan viên tư ấm kiêm chức thông binh. Hiển tỏ tỷ Thái Thị Hành, vợ thứ tư huý Thị Hành nhu nhân

Hiển tổ khảo Dương Trọng Tướng: (thứ nam), thuỵ cương trực phu quân, làm lý trưởng, làm bản lý tuần lý kiêm trùm lý, giữ chức trị hương thông lệnh, cai xã trùm khoán được thưởng chức Phó Tổng, thuỵ cương kính phu quân. Hiển tỏ tỷ chính thất Thái Thị Hành, vợ ba Thị Niệm từ thuận nhu nhân

Hiển tổ khảo Dương Trọng Đương: (thứ nam), thuỵ cương trực phu quân, làm lý trưởng, tri lý bản lý, giữ chức cai xã bản thôn, thọ trên 60 tuổi. Tổ tỷ chính thất Thái Thị Dưỡng, vợ thứ hai Thái Thị Oanh nhu nhân

Hiển tổ khảo Dương Trọng Hướng: (thứ nam), thuỵ chất phác phu quân, làm lý trưởng, tri lý bản lý, cai xã bản thôn, giữ chức tri hương. Tổ tỷ chính thất Thái Thị Hành, vợ thứ tư Thị Lê, hiệu từ thuận nhu nhân

Hiển khảo Dương Trọng Đôi phu quân: làm lý trưởng, hộ hội, cai xã chức

Hiển tỷ :nhậm chức của chồng Dương chính thất Nguyễn Thị Hành và vợ hai Thị Thịnh hiệu từ thuận nhu nhân

Hiển khảo Dương Trưởng công huý Trọng Phác phu quân: làm lý trưởng, tri hương bản thôn, chức cai xã

Hiển tỷ : nhận chức của chồng tri lý, bản lý, bản tộc, hương mục bản thôn, tri hương chức, Dương chính thất Nguyễn Thị Hành, huý Thị Nhị nhu nhân.

Hiển khảo: trước làm lý trưởng, bản lý thông lâm, cai xã, tri hương, võ hội thông bính chức; Dương trưởng công huý Trọng Lộc, thuỵ chất trực phu quân

(Tr.12)

Hiển khảo: trước làm lý trưởng, cai xã, tri hương chức, Dương Trưởng Công huý Trong Lục, thuỵ chất trực phu quân

Hiển khảo huý Trọng Câu: thuỵ Trung Hậu phu quân, trước làm lý trưởng, trùm tộc, trùm lý cai khoán, bản thôn văn hội thông hội võ hội thông binh, quyền lý trưởng, phó tổng dũng, bản tổng trưởng nam

Hiển khảo huý Trọng Tự: thuy cương trực phu quân, trước làm lý trưởng, thông hội thông binh bản thôn, giữ chức trùm hộ bản xã

Hiển khảo thứ nam huý Trọng Mai: hiệu chất phác phu quân, trước làm lý trưởng, thông hội thông binh bản thôn, giữ chức trùm hộ bản xã. Hiển tỷ Thái Thị Bôn hiệu từ thuận nhu nhân

Hiển khảo huý Trọng Bân: phu quân, trước làm lý trưởng, cai xã bản thôn, giữ chức thông binh

Hiển tỷ Dương chính thất Hoàng Thị Hành: bà ba huý Thị Cận nhu nhân nhận chức của chồng là Trùm tộc, tri lý bản lý cai xã bản thôn

Hiển tỷ Dương chính thất Thị Nghiên: nhu nhân nhận chức của chồng là Cai xã bản thôn

Hiển khảo thứ nam Trọng Doan: thuỵ chất phác phu quân, trước làm lý trưởng, cai xã bản thôn chức

Hiển tổ khảo Dương tướng công :huý (mất chữ) phu quân, trước làm lý trưởng, tri hương bản thôn thông binh chức, vợ cả Thái Thị Hành, vơ hai huý Thị Cúc hiệu từ thuận nhu nhân

Hiển khảo thứ nam Trọng Thượng phu quân: trưởng đề trong quân ngũ, quan viên tư ấm

(Tr.13)

Hiển khảo thứ nam Trọng Dưỡng: thụy cương trực phu quân, là lý trưởng, tuần lý, trùm lý, giữ chức Tri Hương võ hội thông binh bản thôn, thọ 60 tuổi. Vợ chính thất Thái Thị Hành, vợ hai huý Thị Ái, vợ ba Thái Thị Cầu nhu nhân

Hiển khảo thứ nam Trọng Hội: thuỵ chất phác phu quân, trước làm lý trưởng. Vợ chính thất Nguyễn Thị Hành hiệu từ thuận nhu nhân

Hiển khảo trưởng nam Trọng Luận: thuỵ cương trực phu quân, trước làm lý trưởng, tri lý, tuần lý trùm lý dịch mục bản thôn, tuần thôn văn hội tri hội chức. Vợ chính thất Thái Thị Hành, vợ hai huý Thị Cầu hiệu từ thuận nhu nhân

Hiển tỷ Dương chính thất Nguyễn Thị Hành: nhu nhân nhận chức của chồng là Trùm tộc trùm lý trùm văn hội thông binh tri hộ chức, bà hai huý Thị Hữu

Hiển tỷ Dương chính thất Trần Thị Hành: thọ 70 tuổi, và một bà hai huý thị Thâm nhu nhân nhận chức của chồng trước là Lý trưởng Trùm tộc trùm lý dịch mục bản thôn võ hội thông binh kiêm tuần khoá từ đường chức, được cấp trên miễn mọi tạp dịch

Hiển khảo trưởng nam Trọng Ngọc: thuỵ chất trực phu quân, trước làm lý trưởng trưởng tộc, tri lý bản lý võ hội thông binh cai thôn.

(Tr.14)

Hiển khảo Dương công thái huý Trọng Hai: thuỵ chất phác phu quân, trước làm lý trưởng, trưởng tộc, cai xã bản thôn, tri hương chức

Hiển khảo Dương trưởng công huý Trọng Tùng Hai: thuỵ chất phác phu quân, trước làm lý trưởng, trưởng tộc, cai xã bản thôn, võ hội thông binh chức. Vợ chính thất Thái Thị Hành, bà hai huý Thị Trinh nhu nhân

Hiển tỷ Dương chính thất Thái Thị Hành: thọ 60 tuổi, bà hai huý Thị Diệu nhu nhân nhận chức của chồng trước là Lý trưởng Tri lý trùm lý kiêm cai khoán

Hiển khảo Dương thứ công huý Trọng Khuyến: thuỵ cương trực phu quân, trước làm lý trưởng, trùm tộc, tuần lý hiệu lân võ hội thông binh cai thôn chức

Hiển tỷ Dương chính thất huý Thị Cô: huý trinh thuận nhu nhân nhận chức của chồng trước là Lý trưởng cai xã bản thôn hộ hội chức

Hiển tỷ Dương môn chính thất Hoàng Thị Hành: bà hai huý Thị Đoàn hiệu từ thuận nhu nhân, nhận chức của chồng là Trùm tộc, thông lân bản lý, võ hội thông binh chức, tri hội, hộ hội, cai hội hương mục, kiêm hương kiểm

Hiển khảo Dương trưởng đường huý Trọng Thiện: thuỵ cương trực phu quân, trước là Lý trưởng, trùm tộc, dịch mục chức bản thôn

(Tr.15)

Về cụ tổ khảo 6 đời Dương Công Cơ:tiền tiến công, giỏi về nghề đọc và ghi chép sổ sách, Cao tổ tỷ Trần Thị Bằng
Nhà thân sinh ở Lãng Điền, lấy vợ đâu sài quần khởi giáp, rồi về quê cũ ở Yên Lăng thôn Quán Nội, điếm Thượng lý, sinh được 3 trai:
- Trường nam: Dương Trọng Hướng (Trongj Dung);
- Thứ nam: Duơng Trọng Thuyên;
- Thứ thứ nam: Dương Trọng Thứ
- Nhất nữ: Dương Thị Đẩu lấy ông Lê Nhâm

Về cụ tằng tổ khảo Dương Trọng Hướng, tự Trọng Dung: thừa hưởng cơ nghiệp của cha trở thành cự phú, ruộng 2 mẫu, vườn đất 3 sào đã khai sáng xây dựng từ đường của họ là công lao của cụ Hướng. Cụ sinh năm giáp tý lấy cụ bà Thái Thị Điềm người cùng thôn, sinh 3 trai 5 gái. Sau lại lấy cụ Phạm Thị Thân người xã Cao Xá sinh được 1 gái lập gia đình ở thôn Quán nội, xóm Thượng ruộng chia làm 7 phần có di chúc thư; Mất ngày 4/6 năm Bính Tý, mộ táng ở ruộng mạ phía đông góc Đông Nam Điếm thượng
Tằng tổ tý Thái Thị Điềm mất ngày 21/10 năm Mậu Dần mộ táng vào Kiều Thế Thế văn là nơi phúc địa
- Tằng tổ tỷ á thất Phạm Thị Thân mất ngày 14/6 mộ táng ở Đồng Nắc, thôn Bào Dược, ruộng mạ ông Nguyễn Xuân Giật;
(Tr.16)
. Chín con trai, con gái:
- Trương nam Dương Trọng Đỉnh (Triệt), con bà cả;
- Dương Trọng Hanh, con bà hai;
- Dương Trọng Đình, con bà cả, mất sớm, vô tự, mộ táng ở Đồng Nền, Kim Giai, giồ 13/5
- Dương Thị Thanh, chồng Thái Phú Đức;
- Dương Thị Đang, chồng Nguyễn Tụng;
- Dương Thị Hạnh, chồng Nguyễn Quốc Thử;
- Dương Thị Bằng, chồng Nguyễn Thái Đạt;
- Dương Thị Đài, chồng Thái Khắc Diện;
- Dương Thị Huỳnh, chồng Thái Khắc Cầu;
- Dương Thị Chanh, chồng Nguyễn Xuân Nậy;

Về hiển tổ khảo Dương Trọng Đỉnh: thuỵ phác trực tướng công, sinh năm Mậu Tý, giổ ngày 14/10, mộ táng ỏ thôn Bàu Dược, vệ tám xứ, huyệt toạ mùi hướng sửu, phân kim tâm mùi tân sửu. Chính thất Thái Thị Kế, người cùng thôn, giổ ngày 10 tháng 2, mộ táng ở xứ Đồng Kiện thô phụ toạ tý hướng hợi phân kim Đinh Ty Đinh Hợi
(Tr.17)
- Á thất Trần Thị Diên người thôn Chấp Trung, giổ ngày 28/8. Mộ táng Đồng Bông xứ, Ruộng ông Dương Trọng Chương, thổ phụ phía Tây Bắc, toạ Tý, hướng Ngọ, phân kim Canh tỵ Canh Ngọ
- Kế thất Trần Thị Sâm người thôn Chấp Trung, Chấp quả xứ, ruộng mạ ông Dương Trọng Thiều toạ Ngọ hướng Tý, phân kim Canh Ngọ Canhh Tý;
- Bà Chính thất sinh sinh 2 trai 3 gái:
+ Trưởng nam Dương Trọng Quỳnh (揚 仲 琼),
+ Thứ nam Dương Trọng Thư (揚 仲 書) lấy người ở Kỳ Thôn tổng Bạch Hà
+ Trưởng nữ Dương Thị Khương lấy ông Thái Văn Ý người cùng thốn sinh 1 trai: Thái Văn Trị
+ Thứ nữ Dương Thị Khang lấy ông Nguyễn Đăng Sãm ngườ xã Văn Tràng
+ Gái út: Dương Thị Thường láy ông Nguyên Khắc Tăng nguờì thôn Hội Tâm, giổ 3/1, mộ táng ở thổ phụ gần đông điếm Thượng, toạ Tý hướng Ngọ
- Trưởng nữ Dương Thị Cư mát sớm; giổ 15/10 mộ táng sau điếm Thượng
- Thứ nữ Dương Thị Chư lấy ông Nguyễn Xuân Giật thôn Bàu Dược sinh 1 gái: Nguyễn Thj Tịnh, giổ 5/9 do Nguyễn Xuân Trạch thờ cúng;
- Thứ Thứ nữ Dương Thị Tú láy ông Nguyễn Đăng Dung ngườì làng Hội Tâm sinh 3 trai 1 gái, giổ 20/3 do ông Nguyễn Đăng Bỉnh thờ cúng;
- Bà á thất sinh được 1 gái Dương Thị Chân láy ông Thái Khắc Luỹ người cùng thôn, không có con lại lấy ông Nguyễn Xuân Đạo ở Vạn An Trang cùng không có con, giổ 13/7, mộ táng ở Van An Xứ, do Đoàn Ngoạn thờ cúng
(Tr.18)
- Bà kế thất sinh 3 trai 2 gái:
* Thứ thứ nam Dương Trọng Lương tự Trọng Hiển lấy người thôn Hội Tâm bà Thái Thj Cần sinh 13 trai, mất 7 còn 6 trai:
- Trưởng nam Dương Trọng Thiều. Thứ nam Dương Trọng Chấn, Dương Trọng Cẩn; Dương Trọng Quyền; Dương Trọng Vĩnh; Dương Trọng Hồ; Dương Trọng Hổ.
* Thứ thứ nam Dương Trọng Phiên, tự Quang Diệu, lấy bà Thái Thị Tấn, người thôn thương, giáp Nhuận Trạch, xã Tiên Nông, cùng Tổng sinh được 3 trai 2 gái. Trương nam Dương Trọng Anh; thứ nam Dương Trọng Dốc, thứ thứ nam Dương Trọng Đôn. Trưởng nữ Dương Thị Liễn lấy ông Nguyễn Đăng Linh người hội tâm, còn một bà nữa (mất chữ)
* Thứ thứ nam Dương Trọnh Khuê lấy bà Thái Thị Toàn người Hội Tâm sinh được 5 trai 2 gái, còn 3 trai: Dương Trọng Doãn; Trọng Phú, Trọng La. Giổ ngày 4/11. Mộ táng ở thổ phụ Tây Yên xứ
* Thứ Thứ thứ nữ: Dương Thị Lân lấy ông Thái Khắc Khẩn người Hội Tâm sinh 3 trai 3 gái
* Con gái út: Dương Thị Thời lấy ông Thái Khắc Biểu người cùng thôn, sinh 2 trai 1 gái

Vê hiển khảo Trưởng nam Dương Trọng Quỳnh: tự Quang Cảnh, giổ ngáy 13/11. Vợ Phan Thị Trường, giổ ngày 29/6 người xã Yên Lăng, sinh 3 trai 3 gái:
(Tr. 19)
- Trưởng nam Dương Trọng Châu
- Thứ nam Dương Trọng Thuỵ mất sớm;
- Thứ thứ nam Dương Trọng Chương lấy bà Thái Thị Thanh người xã Yên Lăng, sinh 3 trai 2 gái: Trưởng nam Dương Trọng Điểm…… , thứ nam Dương Trọng Đang; Trưởng nữ Dương Thị Triệu, Thị Nhã, Dương Thị ……. Giổ ngày 21/ ….) mộ táng
* Trưởng nữ Dương Thị Bích lấy ông Thái Văn Xuân người cùng thôn, sinh 5 trai 1 gái
* Thứ nữ Dương Thị Liệu lấy ngươi xã Yên Lăng sinh 2 trai, do Thái Đình Bình thờ cúng
* Con gái út: Dương Thị Thiều lấy ông Thái Đình Hạt không có con, giổ ngày 19/1, mộ táng ở Yên Lăng

Về Trưởng nam Dương Trọng Châu: lấy bà Thái Thị Sâm người Hội Tâm, sinh 2 trai 8 gái: còn 1 trai 7 gái:
* Trưởng nam Dương Trọng Hoan lấy bà Thái Thj Hành cùng thôn;
* Trưởng nữ Dương Thị Tuyên lấy ông Thái Doãn Bói ngườn cùng thôn;
* Dương Thị Toàn lấy ông Thái Khắc Đường người Hội Tâm;
* Dương Thị San lấy ông Thái Khắc Cương người cùng thôn;
* Dương Thị Lai lấy ông Thái Văn Tấn người Xuân Sơn;
* Dương Thị Hoàn lấy ông Nguyễn Đinh Nhuế người thôn Yên Lại;
* Dương Thị Tẩy lấy ông Thái Khắc Nghiễn không có con, mất sớm giổ 15/8
* Gái út: Dương Thị Tám lấy ông Thái Văn Giảng người Yên Lăng

(Tr.20)

Về con trai thứ cửa cụ tăng tổ Dương Trọng Hướng là Dương Trọng Hanh, tự Trọng Kỳ, giổ ngày 24 tháng 6, mô táng tại Bàu Quan thổ phụ. Tổ tỷ Thái Thị Nhàn người cung thôn, em gái Thái Doãn Biểu, giổ ngày 18/3, mộ táng ở ruộng mạ. Thiếp là Thái Thị Vân chăm làm việc không có con khong rõ ngày mất và phần mộ, sinh được 1 trai 5 gái:
* Trưởng nữ Dương Thị Hiệu lấy ông Thái Doãn Căn người xứ Yên Lăng do Thái Doãn Dược thờ cúng;
* Thứ nữ Dương Thị Đạo lấy người Yên Lại do Xã Luận tthờ cúng;
* Thứ nữ Dương Thị Mùi lấy ông Thái Phúc Bá người cung thôn sinh 1 gái Thái Thị Nguyên;
* Thứ nữ Dương Thị Đào lấy ông Thái Văn Ích cùng thôn, sau lại lấy Thái Văn Nô cung thôn;
* Trươrg nam Dương Trọng Hoan giổ ngày 6/11, mộ táng ở Đồng Nắc gốc cây Hông xứ, toạ mùi hướng sửu, phân kim Đinh Mùi, Đinh Sửu, vợ là Thái Thị Khánh người Hội Tâm, giổ ngày 5/8, mộ táng cung với cụ ông, phân kim như cụ ông, sinh 1 trai 3 gái: Trưởng nam Dương Trọng Quản, trước lấy bà Thái Thị Chín người xứ Yên Lăng, giổ ngày 15/3, mộ táng xứ Ba la Đồng Quan, sinh được 1 gái

(Tr.21)

Dương Thị Hoè sau lấy con gái cụ Thái Đắc Thống người thôn Yên Mỹ là bà Thái Thị Chính sinh 5 trai 2 gái: Trưởng nam Dương Trọng Tuân, Thứ nam Dương Trọng Ánh, Dương Trọng Tư, Dương Trọng Mai, Dương Trọng Câu; 2 gái: Dương Thị Hoa lấy chồng ở Văn Tràng, Dương Thị Trạch lấy chồng ở Tiên Nông
+ Trưởng nữ: Dương Thị Đài lấy ông Trần Văn Tỉnh cùng thôn sinh được 3 trai;
+ Thứ nữ: Dương Thị Toả lấy ông Nguyễn Đăng Hoàn;
+ Còn 1 nữ nữa không thấy ghi

Về Tằng tổ khảo chi thứ hai: Dương Trọng Thuyên: tự Trọng Quang, giổ ngày 21/6 mộ táng ở cây Vối hạ Đồng Quan. Cụ bà Lê Thị Nhị, giổ ngáy 18/7, mộ táng ở xứ Đồng Nắc, sinh được 2 trai:
- Trưởng nam Dương Trọng Hoa, giổ ngày 18/1, mộ táng ở thôn Bàu Dược, thổ phụ Vệ Bụt xứ. Vợ là Nguyến Thị Điều giổ ngày 16/3, mộ táng ở ruộng mạ điếm thường xứ;
- Thứ nam Dương Trọng Trung, con là Dương Trọng Đông, bố con đều mất, vô tự, mộ táng sau điếm Thượng xứ, giổ ngày 2/2

Về Dương Trong Hoa : sinh được 1 trai 2 gái:
* Trưởng nữ: Dương Thị Bát lấy ông Thái Văn Khuê người cùng thôn, mộ táng ở Bàu Quan xứ, giổ ngày 8/12
* Thứ nữ Dương Thị Chu lấy ông Nguyến Thái Lăng cùng thôn, do Nguyến Thái Tăc thờ cúng
* Trưởng nam Dương Trọng Hoà tự Trọng Miễn giổ ngày 16/10 mộ táng ở ruộng mạ chùa Lắc. Vơ là Thái Thị Cử người cung thôn, giổ ngày 26/8. Mộ táng ơr thổ phụ chùa Lắc xứ, sinh được 5 trai 2 gái:
- Trưởng nam: Dương Trọng Dư lấy bà Trần Thị Huân, người cùng thôn. Giổ ngày 16/tháng, mộ táng ở ruộng mạ Chùa Trồi xứ, sinh 4 trai. Con trưởng Dương Trong Hữu lấy bà Thái Thị Cúc người cung thôn.
- Thứ nam Dương Trọng Tượng mất sớm, mộ táng ở sau điếm Thượng, giổ ngày 20/11; - Dương Trọng Thượng lấy bà Nguyễn Thị Khái người cùng thôn; - Con trai út: Dương Trọng Dưỡng lấy bà Thái Thị Cư người cùng thôn;
Thứ nam Dương Trọng Túc lấy bà Thái Thị Dao bị chết đuối, lai lấy bà Thái Thị Phì người Văn Tràng sinh 5 trai 1 gái:
Thứ nam: Dương Trọng Tiến, đi bộ đội, mất sớm, mộ táng ở xứ Đồng Bổng thổ phụ, giổ ngày 24/12
Thứ thứ nam Dương Trọng Uyên lấy ba Thái Thị Phiệt người cùng thôn, sinh được 3 trai 3 gái: con trai là Dương Trọng Luân, Dương Trọng Kiểu, Dương Trọng Quân
Con trai út: Dương Trọng Khai lấy bà Thái Thị Hiệp người cùng thôn sinh được 3 trai 2 gái: Trưởng nữ Dương Thị Nghìn lấy ông Nguyễn Viết Cựu người cùng thôn sinh được 1 trai là Nguyễn Viết Phượng và 1 gái
Thứ nữ: Dương Thị Dai lấy ông Thái Khắc Tác người Hội Tâm

Về tằng tổ khảo Chi thứ ba ((Tri Mỹ Chi) Dương Trọng Thứ tự Trọng Cầu, giổ ngày 28/1. Mộ táng ở Hạ Đồng Quan, điếm Hồi xứ, thổ phụ chính điền:
- Vợ chính thất Nguyễn Thị Lăng, giỏ ngày 9/9, mộ táng ở ruộng mạ Đồng Nắc xứ, Bàu Dược thôn, sinh được 1 gái là: Dương Thị Nùng lấy ông Nguyễn Viết Cấm người cùng thôn, Vi Tư Đoan thờ cúng.
- Á thất Nguyến Thị Tuyết không rõ ngày giổ, mộ táng sau Điếm Thượng trên ruộng mạ ông Tri Thuỵ sinh 1 gái 1 trai là:

+ Dương Thị Phượng: chồng người cùng thôn, do Hộ Châu thờ cúng

+ Trưởng nam Dương Trọng Năng, mộ táng tại Chùa Lội, lấy bà Nguyễn Thị Tịnh (Diệu) người cùng thôn, mộ táng tại Đồng Nắc, sinh được 2 trai 6 gái.
* Trưởng nam Dương Trọng Kiên,
* Thứ nam Dương Trong Ngoạn.
* Trưởng nữ Dương Thị Dục lấy chồng Nguyễn Đinh Quang thôn Bàu Dược.
* Dương Thị Thi lấy chồng người cùng thôn sinh được 1 gái.
* Dương Thị Hệ lấy chồng người Xuân Sơn do Tri Vinh thờ cúng
* Dương Thị Khang lấy ông Thái Văn Thái cùng thôn.
* Thứ nữ Dương Thị Hoà lấy ông Nguyễn Đình Thương cùng thôn.
* Con gái út Dương Thị Thuỳ chồng Thái Doãn Viên

Hết

Ghi chú:

1. Các chức danh của các bậc tiên tổ thời Phong kiến thuộc Pháp trước năm 1945 ghi trong gia phả:
- Về chức danh quản lý làng xã: Từ thời nhà Nguyễn (1824- 1883) sau khi Vua Gia Long thống nhất đất nước, chính quyền trung ương chỉ quản cấp phủ và huyện, trao quyền cai tổng, phó tổng do các làng bầu. Năm 1904, thực dân Pháp tổ chức “Ban Hội Tề” (còn gọi là Hội đồng làng) có các chức vụ: Hương cả, Hương chủ, Hương sư, Hương trưởng, Hương chánh, Hương giáo, Hương quản, Hương bộ, Hương thân, Xã trưởng, Hương hào…Ở Trung Kỳ, năm 1942, Triều đình Huế thành lập Hội đồng Kỳ hào, cơ quan chấp hành là Lý trưởng, Phó lý, Ngũ hương. Bộ máy quản lý làng, xã: Chánh hội, Phó hội, Lý trưởng, Khán thủ, Trương tuần, Phó lý, chưởng bạ, trị bạ, hộ lại; thư ký, thủ quỹ do dân bầu, không do quan trên bổ nhiệm;
- Phường: là tổ chức phường nghề như Phường vải, Phường nề, phường mộc,
- Hội tư văn: là môt tổ chức xã hội của kẻ sỹ dân quê học chữ nho, có các chức danh Hội trưởng, Điển văn, Tả văn do hội bầu chọn
- Hội hương binh: là hội các cựu chiến binh làng, xã đứng đầu là Hội trưởng
- Giáp: Là hội dựa trên quan hệ tuổi tác, tiến thân bằng tuổi tác, gọi là “Xí tác” theo nguyên tắc “trọng xí” được năng dần theo tuổi tác, như già làng ở các dân tộc miền núi
2. Tham khảo các đia danh thời Pháp thuộc trong Gia phả bản chữ Hán
Theo sách Tên làng xã Việt Nam đầu thế ký XIX, danh xưng Đô Lương có từ năm 1831. Đô Lương là một Tổng thuộc huyện Nam Đường, phủ Anh Đô. Phủ Anh Đô gồm có 2 huyện: Nam Đường và Hưng Nguyên. Huyện Nam Đường: gồm có 8 tổng, 90 xã, thôn, phường, trại, sách, giáp, vạn, đó là:
- Tổng Đô Lương gồm 24 xã, thôn, giáp:
+ Đô Lương (xã): thôn Cẩm Hoa Thượng, thôn Cẩm Hoa Đông, giáp Nghiêm Thắng, giáp Duyên Quang, thôn Đông Trung, thôn Hoa Viên, thôn Phúc Thị.
+ Đại Tuyền (xã): thôn Phúc Thọ, Đông Am, giáp Trung An, thôn An Thành
+ Bạch Đường: thôn Nhân Trung, thôn Phúc Tuyền, thôn Phúc An, thôn Nhân Bồi, thôn Miếu Đường.
+ Diêm Trường: thôn An Tứ, Bỉnh Trung, Chấp Trung
+ Phường Thiên Lý, thôn Vĩnh Trung, phường Hồng Hoa, phường Duy Thanh.
- Tổng Lãng Điền: Xã Lãng Điền, Mặc Điền, Tào Nguyên, thôn Vạn Hộ, Cấm An, An Lương, vạn Lãng Điền, Mặc Điền, sách Tào Giang.
- Tổng Thuần Trung: gồm các thôn: Thuần Trung, Tràng Bộc, Yết Nghi, Phật Kệ, Sơn La. - Tổng Bạch Hà: Xã Bạch Hà, Nhân Luật, Lưu Sơn, Thanh Thủy, Đào Ngoã.
- Tổng Non Liễu: 20 xã, thôn, giáp: Non Liễu, Yên Lạc, Thanh Tuyền, Non Hồ, Vân Đồn, Chung Giáp, Thượng Hồng (thôn).
- Tổng Lâm Thịnh; - Tổng Đại Đồng; - Tổng Hoa Lâm

Biên tập bổ sung Dương Trọng Bảng

Thứ Năm, 12 tháng 9, 2019

NGÀY GIỖ VÀ CÁCH GHI MỘ CHÍ

1. GIỔ

Là một buổi lễ, nghi thức theo phong tục tập quán của người Việt nhằm tưởng nhớ đến những người đã qua đời. Giỗ được tổ chức vào đúng ngày mất theo Âm lịch của người được thờ cúng

Ý nghĩa của giỗ là để nhắc nhở con cháu về những người đã đi trước; gắn kết tình cảm của các thành viên trong cùng một gia đình, dòng họ, đôi khi trong cùng nghề

Cúng giỗ là một buổi lễ kỷ niệm ngày người mất qua đời quan trọng của người Việt, được tính theo Âm lịch. Ngày này là ngày để thể hiện tấm lòng thủy chung, thương xót của người đang sống với người đã khuất, thể hiện đạo hiếu đối với Tổ tiên. Nhà giàu thì tổ chức làm giỗ linh đình, mời người thân trong dòng họ, bạn bè gần xa, anh em bằng hữu về dự giỗ. Nhà nghèo thì chỉ cần lưng cơm, đĩa muối, quả trứng, ba nén nhang, một đôi nến và vài món ăn giản dị cúng người mất cũng đã có lòng Thành kính đối với người đã mất. Lòng thủy chung, thương xót người đã khuất chỉ phụ thuộc vào việc con cháu phải nhớ ngày người mất để làm giỗ, không liên quan đến việc làm giỗ lớn hay nhỏ

Thân bằng, cố hữu của những người quá cố nếu thấy lưu luyến thì đến dự giỗ theo ngày đã định sẵn từ trước, không cần phải đợi đến thiệp mời như tiệc cưới, lễ mừng, không nên có chuyện hữu thỉnh hữu lai, vô thỉnh bất đáo (有請有来, 无请不到), nghĩa là có mời thì đến, không mời không đến

2. CÁCH KHẤN CÚNG TRONG CÚNG GIỔ:

Theo sách "Thọ Mai Gia Lễ" việc cúng giỗ chỉ thực hiện trong 5 đời theo phép "Ngũ đại đồng đường", đến đời thứ 6 người chịu trách nhiệm cúng giỗ sẽ rước vào nhà thờ họ để khấn chung với cộng đồng Gia Tiên trong những dịp Xuân Tế hay Chạp Tổ và không cúng giỗ riêng nữa

Ngũ Đại

tính trực tiếp từ bản thân người chịu trách nhiệm cúng giỗ
Can ông: khấn là Hiển Cao Tổ Khảo
Can bà: khấn là Hiển Cao Tổ Tỷ

Tứ Đại

tính trực tiếp từ bản thân người chịu trách nhiệm cúng giỗ
Cố ông: khấn là Hiển Tằng Tổ Khảo
Cố bà: khấn là Hiển Tằng Tổ Tỷ

Tam Đại

tính trực tiếp từ bản thân người chịu trách nhiệm cúng giỗ

Ông nội: khấn là Hiển Tổ Khảo
Bà nội: khấn là Hiển Tổ Tỷ
Nhị Đại

tính trực tiếp từ bản thân người chịu trách nhiệm cúng giỗ

Cha đẻ: khấn là Hiển Khảo

Mẹ đẻ: khấn là Hiển Tỷ

Nếu cha vợ : (trường hợp bên vợ không còn người thừa tự) khấn là Hiển Nhạc Phụ

Mẹ vợ: (trường hợp bên vợ không còn người thừa tự) khấn là Hiển
Nhạc Mẫu

Bác ruột: (anh bố) là Hiển Bá Khảo, còn bác dâu (chị dâu bố) là Hiển Bá Tỷ, chú ruột (em bố) hoặc thím (em dâu bố) thì sửa chữ Bá thành chữ Thúc. Trường hợp cô ruột (chị hoặc em gái bố) thì bỏ các chữ Bá, Thúc đi mà thay chữ Cô vào vị trí đó, các trường hợp trên nếu chết non khi chưa đến "tuổi vị thành niên" đều phải thêm chữ Mãnh đằng trước mà bỏ chữ Hiển và chữ Khảo đi.

Nhất Đại

tính trực tiếp từ bản thân người chịu trách nhiệm cúng giỗ

Nếu anh trai là Bào Huynh, anh cùng bố khác mẹ gọi là: Thân Huynh, anh cùng mẹ khác bố gọi là Thệ Huynh, trường hợp người anh đó chết non khi còn ở "tuổi vị thành niên" thì thêm chữ Mãnh vào trước chữ Huynh. Tương tự nếu người quá cố là em trai thì thay chữ Huynh bằng chữ Đệ, nếu là chị gái đổi thành chữ Tỷ và em gái thì sửa là chữ Muội. Còn trường hợp chị dâu (nếu chưa có con với anh mà ở vậy không tái giá) thì thay chữ Huynh bằng chữ Tẩu và em dâu thì đổi gọi thành Đệ Phụ.

Vợ: là Hiền Thê, chồng là Lương Phu;

Nghịch Cảnh

Nếu con trai không may chết trước cha mẹ khi đã đến tuổi thành niên mà chưa có gia đình (trong trường hợp các em còn nhỏ) thì gọi là Yểu Tử, tương tự con gái là Yểu Nữ.

Ghi chú:

Tất cả những trường hợp chết chưa đến tuổi thành niên (nữ dưới 13 tuổi, nam dưới 16 tuổi) không có cúng giỗ riêng mà đều khấn chung là Thương Vong Tòng Tự.

2. CÁCH GHI TRÊN MỘ CHÍ

Ví dụ: Hàng dọc ở giữa:

Hiển tổ khảo Lê quý công húy Hòa, tự Phúc Chính chi mộ.

Dịch: Mộ ông nội Lê Văn Hòa, tên chữ là Phúc Chính.

Hàng ngang cuối cùng:

Thọ thất thập tuế

Dịch: thọ 70 tuổi

Hàng dọc bên phải:

Tam nguyệt nhị thập tứ nhật kị

Dịch: Kị ngày 24 tháng 3

Hàng dọc bên trái:

Trưởng tôn Lê Văn Học phụng tự

Cách ghi đơn giản bằng Tiếng Việt như sau:

Đời thứ nhất: Đời Can- Can ông ……. Mã hóa D1. Can bà cả:……. D1.1

Sau đó là: Năm sinh:yyyy

Mất: d/m/yyyy

Hết

Thứ Hai, 22 tháng 7, 2019

GIA PHẢ THỨ THỨ CHI CAN CẦU

LÀNG QUAN NỘI, XÓM ĐẠI ĐỒNG, XÃ ĐÔ LƯƠNG

(Cập nhật bổ sung tháng 29/8/2025)

NGUỒN GỐC THUỶ TỐ HỌ DƯƠNG TRỌNG

Nguồn gốc thủy tổ: họ Dương Trọng làng Quan Nội nguyên quán: thôn Giáp. xã Cao Hương, phủ Nghĩa Hưng, huyện Thiện Bản, tỉnh Nam Định di cư vào Nghệ An khoảng năm 1700. Đã có 1 bài viết riêng trong blog này

→ Xem bài: Nguồn gốc thủy tổ họ Dương Trọng

CAO TỔ TỘC HỌ DƯƠNG TRỌNG LÀNG QUAN NỘI

Đời thứ 1:

D1. Cao tổ khảo, thứ nam DƯƠNG CÔNG LÂM (揚 彸 林), tự CÔNG CƠ (彸 基) là CAO TỔ HỌ DƯƠNG xóm Quan Nội, làn Kim Liên, xã Thịnh Sơn. Sinh năm Nhâm Thìn (1772), Giỏi về nghề ghi chép sổ sách, giữ chức Tri bạ (địa chính). Giỗ ngày 13/2, mộ táng tại Yên Lăng, đồng Nhà Thánh. Cao tổ tỷ Trần Thị Hằng, huý Thị Bằng, hiệu Từ thuận nhụ nhân thần vị. Giỗ ngày 18/1, mộ táng tại Làng Quan Nội, đông xóm Thượng, Quyết Điền xứ, tọa Tý, hướng Ngọ. Thân sinh cụ Công Cơ vốn ở Lãng Điền, có một thời gian xa quê lấy vợ rồi quay về quê cũ của tổ ở xã Yên Lăng, làng Quán Nội, xóm Thượng. Cụ ông bị bệnh mất sớm, cụ bà một mình nuôi con, tạo được ruộng ao vườn chia làm 4 phần có di chúc cho 4 con (3 nam 1 nữ):
D2.1.1 Trưởng nam Dương Trọng Hướng (揚 仲 珦), huý Trọng Dong (仲 瑢), tự là Trọng Dung sinh năm Giáp Tý 1804;
D2.1.2 Thứ nam Dương Trọng Thuyên (揚 仲 銓), huý Trọng Toàn, tự Trọng Uổng, tự Quang Cảnh phu quân, sinh năm Đinh Mão (1807):
D2.1.3 Nam thứ ba Dương Trọng Cầu (揚 仲 球)phu quân, húy Trọng Thứ (仲 庶) sinh năm Kỷ Tỵ (1809)
D2.1.4 Nhất nữ:Dương Thị Đẩu (揚 氏 斗) là em gái Dương Trọng Hướng, lấy chồng Lê Nhâm nhưng không có con nên phần ruộng của bà Đẩu hoàn lại cho 3 chi. Giỗ ngày 13/8. Lăng Tổ bà Dương Nhất Nương hiệu Anh Linh Thần vị ở hậu xóm Thượng được con cháu hậu duệ tôn tạo nhiều lần, đặc biệt năm 2024-2025 có sự đóng góp lớn của Trọng Tư, Trọng Thiết Chi Can Phiên và ông Dương Quốc Huy là người con họ Dương quê ở Bắc Ninh nâng cấp khang trang, có hồ sen, đài phun nước, tưởng rào, sân, đường nội bộ và cổng bằng đá tự nhiên

Cổng vào nhà thờ đại tôn lắp dựng năm Canh Tý 2011

Quần thể Lăng tổ cô Dương Nhất Nương hoàn thành năm 2025

Lăng tổ cô Dương Nhất Nương tại Hậu Xóm Thượng trước khi cải tạo, anh chụp năm 2019

Đời thứ 2

Ba con trai kế hậu của cao tổ Dương Công Lâm (Công Cơ)

D2.1 Trưởng Nam, DƯƠNG TRỌNG HƯỚNG (揚 仲 珦): huý Trọng Dong (仲 瑢) tên chữ Trọng Dung (1804 Giáp tý – 4/6/1876 Bính Tý), là trưởng nam thừa hưởng cơ nghiệp của ông cha, trở thành cự phú, ruộng có 2 mẫu, vườn 3 sào, đã khởi công xây dựng từ đường của họ Dương tại xóm Thượng và được con cháu hoàn thành vào năm Tự Đức Canh Thìn (1880). Bà cả Lê Thị Điềm, tên húy Thị Hằng, nhị huý Thị Thiệt, sinh năm Mậụ Dần (1818), là người cùng thôn sinh đắc 2 trai 6 gái, giỗ ngày 21/10. Mộ táng tại Thế Thế Văn xứ Tiên ông là nơi phúc địa (phía sau động Cao xã Bài Sơn). Bà hai Phạm Thị Thân, người Cao Xá, sinh được 1 trai, 1 gái lập gia đình ở thôn Quan Nội, xóm Thượng, sinh 1 con gái. Con 3 trai 7 gái:
D3.1.1 Dương Trọng Đỉnh (Triệt), con bà cả;
D3.1.2 Dương Trọng Hanh, con bà hai;
D3.1.3 Dương Trọng Đình, con bà cả, mất sớm, vô tự, mộ táng ở Đồng Nền, Kim Giai, giồ 13/5
D3.1.4 Dương Thị Thanh, D3.1.5 Dương Thị Đang; D3.1.6 Dương Thị Hạnh; D3.1.7 Dương Thị Bằng; D3.1.8 Dương Thị Đài; D3.1.9 Dương Thị Huỳnh; D3.1.10 Dương Thị Chanh

Con trai Trưởng Dương TrọngTriệt và con thứ Dương Trong Hanh chia ra hai cửa để thờ cúng: Cửa Giáp do cụ Dương Trong Triệt làm Trưởng tộc gọi là Can Trường và Cửa Ất do cụ Dương Trọng Hanh làm Trưởng chi gọi Can Sinh (Chi ông Phương Đài hiện nay)

D2.2 Thứ nam DƯƠNG TRỌNG THUYÊN (揚 仲 銓): huý Trọng Toàn 仲 佺, tự Trọng Uổng, là Lý trưởng kiêm chức trị sự. Sinh năm Đinh Mão (1807), giỗ ngày 21/6. Vợ Lê Thị Nhị (Thị Ư) giổ ngày 18/7, sinh 5 nam:
D3.2.1 Dương Trọng Sung, vô tự;
D3.2.2 Dương Trọng Đông, vô tự;
D3.2.3 Dương Trọng Trung, vô tự;
D3.2.4 Dương Trọng Hoa;
D3.2.5 Dương Trọng Hoà tự Trọng Miễn

D2.3 Thứ thứ nam DƯƠNG TRỌNG CẦU (揚 仲 俅): huý Trọng Thứ 仲 庶). Giữ chức Tri bạ (địa chính), giổ ngày 28/1. Vợ chính thất Nguyễn Thị Lăng giỗ ngày 9/9, sinh nhất nữ. Vợ hai: Nguyễn Thị Tuyết (Tiêu) sinh 1 nam, 1 nữ
D3.3.1 Dương Thị Nùng con bà cả, lấy chồng Nguyễn Viết Cẩn
D3.3.2 Dương Thị Phượng lấy chồng người cùng thôn Hộ Châu thờ cúng
D3.3.3 Dương Trọng Năng, con bà hai

Đời thứ ba: Ba con trai Cao tổ lập thành 3 chi

Con cháu chắt 3 con trai Cao tổ phát triển nhanh, lập thành 3 chi: Chi Trưởng Dương Hưởng, Thứ Chi Can Thuyên- gọi là Chi Đông Tùng và Thứ thứ Chi Can Cầu- gọi là Tri Mỹ Chi để thờ tự:

CHI TRƯỞNG- TRƯỞNG TỘC DƯƠNG HƯỚNG

Hai con trai Trưởng tộc Dương Hướng

D3.1.1 TRƯỞNG NAM DƯƠNG TRỌNG ĐỈNH-(揚 仲 椗),(Mậu Tý 1778 – 1828), thụy phác trực tướng công là Trưởng tộc cửa trưởng, giữ chức tri bạ (đia chính) giỗ ngày 14/10, mộ táng thôn Bàu Vạn vệ tám xứ, huyệt toạ Mùi, hướng Sửu, phân kim Tân Mùi Tân Sửu. Có ba vợ: Vợ cả Lê Thị Kế người cùng thôn, giỗ ngày 10/2, sinh 02 nam 03 nữ (giỗ 10/2) mộ táng xứ Đồng Kiện thổ phụ, toạ Tỵ hướng Hợi, phân kim Đinh Tỵ Đinh Hợi. Vợ hai Trần Thị Diên (Duyên) sinh 01 nữ người thôn Chấp Trung, giỗ ngày 28/8, mộ táng Đồng Bổng xứ, ruộng ông Dương Trọng Chương, thổ phụ phía Tây Bắc, toạ Tỵ hướng Ngọ, phân kim Canh Tỵ, Canh Ngọ. Vợ ba Trần Thị Sâm (còn gọi là Tám) người thôn Chấp Trung, giỗ ngày 16/6 mộ táng Thôn Bàu Vạn, Chấp Quả xứ, ruộng mạ ông Dương Trọng Thiều, toạ ngọ, hướng tý, phân kim Canh Ngọ, Canh Tý, sinh 3 nam 2 nữ: Tất cả có 5 nam 4 nữ:
D4.11.1 Dương Trọng Quỳnh (揚 仲 琼), cố Quyên, con bà cả;
D4.11.2 Dương Trọng Thư (揚 仲 書),tự Trọng Tâm,cố Vân, con bà hai;
D4.11.3 Dương Trọng Phiên (揚 仲 幡), còn gọi là cố Xiển, con bà ba;
D4.11.4 Dương Trọng Khuê (揚 仲 刲)- cố Hoàn, con bà ba;
D4.11.5 Dương Trong Phạn (揚 仲 梵)- mất sớm, vô tD3.1.2ự, con bà Sâm;
D 1.6 Dương bị Châu, con bà hai lấy ông Thái Khắc Luỹ người cùng làng, tái giá với ông Nguyễn Xuân Đạo làng Vạn An;
D4.11.7 Dương Thị Lâm chồng Thái Khắc Khẩn người Làng Hội Tâm sinh có 3 trai 3 gái;
D4.11.8 Thứ nữ Dương Thị Thời chồng Thái Khắc Biểu, người cùng thôn, có 2 trai 1 gái

D3.1.2 THỨ NAM DƯƠNG TRỌNG HANH (揚 仲 亨), tự Trọng Kỳ, còn có tên Trọng Quách con bà hai, được học hành chu đáo, giữ chức Phó Lý (không do quan trên bổ nhiệm do dân bầu, tương đương với cấp Phó chủ tịch xã), mộ táng tại Đồng Quan. Cố bà chính thất Thái Thị Nhàn ở xóm Hội Tâm sinh nhất nam:
D4.12.1 Dương Trọng Hoán (cố Phó Tiệp)

THỨ CHI CAN THUYÊN- CHI ĐÔNG TÙNG

2.1 Hai con trai kế hậu Thứ nam Dương Trọng Thuyên (揚 仲 銓) (D2.2):

D3.2.4 DƯƠNG TRỌNG HOE, giổ ngày 19/9, mộ táng thôn Bàu Vạn (Yên Thế), thổ phụ vệ Bụt xứ. Vợ là Nguyễn Thị Điều, giỗ ngày 16/7, mộ táng tại ruộng mạ xóm Thượng. Sinh 1 nam, 2 nữ:
D4.24.1 Trưởng nữ Dương Thị Bát lấy ông Thái Văn Khuê người cùng thôn, mộ táng ở Bào Quan xứ, giỗ ngày 8/12.
D4.24.2 Dương Thị Chu lấy ông Nguyễn Thái L cùng thôn, Nguyễn Thái Tắc thờ cúng;
D4.24.3 Nhất nam: Dương Trọng Trung.

D3.2.5 DƯƠNG TRỌNG HOÀ, tự Trọng Miễn, giổ ngày 16/10, mộ táng tại ruộng mạ đồng Nắc (phía nam cầu sông Đào). Vợ Thái Thị Cử người cùng thôn. Giổ ngày 26/8. Mộ táng ở thổ phụ đồng Nắc xứ, sinh 5 trai, 2 gái:
D4.25.1 Trưởng nam Dương Trọng Dư (cố Mậu);
D4.25.2 Dương Trọng Cúc (cố Đuyến);
D4.25.3 Dương Trọng Tiến ( cố Túc), vô tự;
D4.25.4 Dương Trọng Uyên, tự trọng Duân;
D4.25.5 Dương Trọng Khai tự Trọng Vồng
Hai con gái không thấy ghi tên trong gia phả

THỨ THỨ CHI CAN CẦU - TRI MỸ CHI

Nhất nam của thứ thứ nam Dương Trọng Cầu D2.3 (揚 仲 俅)

D3.3.3 DƯƠNG TRỌNG NĂNG: Trưởng Chi tộc can Cầu- Tri Mỹ Chi, giổ ngày 20/7 không rõ năm. Mộ can Cầu sau này đã chuyển về trước Nghiã Trang Chi tộc Can Thuyên. Con 1 trai 6 gái:
D4.33.1 Dương Thị Dục;
D4.33.2 Dương Thị Thị lấy chồng người cùng làng;
D4.33.3 Dương Thị Hệ lấy chồng về xã Xuân Sơn;
D4.33.4 Dương Thị Khang lấy ông Thái Văn Thái;
D4.33.5 Dương Trọng Kiện;
D4.33.6 Dương Thị Hoà, chồng Nguyến Đình Thương;
D4.32.7 Dương Thị Thuỳ, chồng Thái Doãn Viên;

Đời Thứ 4. Thứ thứ Chi Can Cầu- Mỹ Tri Chi

Nhất nam của cụ Dương Trọng Năng D3.3.3:

D4.33.5 DƯƠNG TRỌNG KIỆN (giỗ 13/11): là Tộc Trưởng chi Tri Mỹ đời thứ 4, Chính thất Thái Thị Đình, á thất Thái Thị Duệ, có 3 nam 1 nữ :
D5.335.1 Dương Thị Liễu (bà Cửu Liệu), chồng Nguyễn Cảnh ở xóm Mọi; nhà dàu có, quyền thế, Mẹ ông Tuần Thuộc, ông Tráng là cháu;
D5.335.2 Dương Thị Đượi (bà Đồ Đượi), lấy chồng làm Lý Trưởng làng Yên Lại, Hòa Sơn;
D5.335.3 Dương Thị Nhiếp (bà Cửu Nhiếp); lấy chồng vê xóm Chùa, là mẹ cố Xin Nhàn; ông Chương Bửu, bà của bà Thanh Miêng
D5.335.4 Dương Thị Hiệu (bà Cửu Hiệu), lấy chồng về xóm Mọi, nhà dàu có là mẹ cố Sâm Long;
D5.335.5 Dương Trọng Thiện;
D5.335.6 Dương Trong Ngoãn

Đời Thứ 5. Thứ thứ Chi Can Cầu- Mỹ Tri Chi

Con trai cụ Dương Trọng Kiện D4.33.5:

D5.335.5 DƯƠNG TRỌNG THIỆN (……): tộc trưởng Thứ thứ Chi, đời thứ năm. Nhà dàu có. Vợ Chính thất Thái Thị Đình, vợ á thất Thái Thị Duệ. Có 3 con trai, 1 gái:
D6.3355.1 Dương Trọng Uyển (vô tự);
D6.3355.2 Dương Trọng Xuyến;
D6.3555.3 Dương Trọng Tiến: vô tự
D6.3355.3 Dương Thị Thuyến, chồng Thái Khắc Nhiên (mẹ ông Nguyên)

D5.335.6 Dương Trọng Ngoãn: vợ Thái Thị Thân, có 2 con bị chết đói trong nạn đói năm 1945:
D6.3356.1 Dương Trọng Mãn chết đói năm 1945
D6.3356.2 Dương Trọng Nhiên, chết đói năm 1945

Đời thứ 6. Thứ thứ Chi Can Cầu- Mỹ Tri Chi

Con trai ông Dương Trọng Thiện D5.335.5:

D6.3355.2 DƯƠNG TRỌNG XUYẾN (….): chi trưởng đời thứ 6. Nhà nghèo, đi làm thuê. Vợ Thái Thị Lực quê Thanh Chương cũng là người làm thuê. Có 2 con:
D7.33552.1 Dương Trọng Lịch;
D7.33552.2 Dương Thị Hợi (1935), nhà nghèo, bố mẹ phải bán về Yên Thành làm con nuôi. Năm 1953 về sống cùng mẹ là bà Lực. Sau lấy chồng về Đà Nẵng là bộ đội miền nam tập kết, Công nhân nông trường, cư trú tỉnh Quảng Nam

Đời thứ 7. Thứ thứ Chi Can Cầu- Mỹ Tri Chi:

Con trai ông Dương Trọng Xuyến D6.3355.2:

D7.33552.1 DƯƠNG TRỌNG LỊCH (1932-2015): bộ đội Miền Nam, sau hiệp định Giơnevơ 1954, tập kết ra bắc vĩ tuyên 17, học nghề Y sỹ, công tác tại nông trường ở Hà Tĩnh. Vợ Trần Thị Cam, quê Nam Kim, Nam Đàn rồi đưa về quê ở trong căn nhà nhỏ cạnh nhà Bà Thơn. Năm 1976 chuyển ra Nông trường Yên Định Thanh Hóa. Năm 1983 về quê không còn nhà vì HTX nông nghiệp đã chuyển giao cho nhà cho bà Thơn. Ông bà phải quay về Yên Định, Thanh Hóa. Năm 2015 ông Lịch qua đời bà Trần Thị Cam được các con đưa ra Hà Nội. Ông bà có 05 con:
D8.335521.1 Dương Thị Khanh;
D8.335521.2 Dương Trọng Công Tưởng;
D8.335521.3 Dương Trọng Tiên Niệm;
D8.335521.4 Dương Trọng Công Lý

Đời thứ 8. Thứ thứ Chi Can Cầu- Mỹ Tri Chi:

Con trai ông Dương Trọng Lịch D7.33552.1:

D8.335521.2 DƯƠNG TRỌNG CÔNG TƯỞNG (….): tốt nghiệp Đại học xây dựng Hà Nội. Vợ Thân Thị Thanh Hằng. Có các con:
D9.3355212.1 Dương Minh Việt Đằng (2000): du học tại Hoa Kỳ (USA):

D8.335521.3 DƯƠNG TRỌNG TIÊN NIỆM (… ): Đại học kinh té quốc dân Hà Nội. Vợ Nguyễn Thị Hương, bác sỹ, quê Bắc Giang, có các con::
D9.3355213.1 Dương Trọng Đức Dĩnh (1997):
D9.3355213.2 Dương Bích Trà:

D8.335521.4 DƯƠNG TRỌNG CÔNG LÝ (…): Đại học thương mại Hà Nội. Vợ Vũ Thu Hương, quê Đà Nẵng. Sau khi vợ mất, gia đình định cư tại USA. Có các con:
D9.3355214.1 Dương Vũ Hà An (2002):
D9.3355214.2 Dương Vũ (2008):

Đời thứ 9. Thứ thứ Chi Can Cầu- Mỹ Tri Chi:

Con trai ông Dương Trọng Công Tưởng D8.335521.2:

D9.3355212.1 DƯƠNG MINH VIỆT ĐẰNG (….):

Con trai ông Dương Trọng Tiên Niệm D8.335521.3:

D9.3355213 DƯƠNG TRỌNG ĐỨC VĨNH (….):

Con trai ông Dương Trọng Công Lý D8.335521:

D9.3355214.1 DƯƠNG (…..):

D9.3355214.2 DƯƠNG VŨ (2008)::

Một điều cần ghi lại: Cụ Dương Trọng Năng là con út của Cao tổ Dương Công Cơ, Thủy tổ Họ Dương Trọng ở Thịnh Sơn. Lúc sinh thời cụ Năng giàu có, nhưng con trai Dương Trọng Thiện kế nghiệp bị phá sản. Ông Dương Trọng Ngoạn là em trai ông Thiện có 2 con trai: Trọng Mãn, Trọng Nhiên bị chết đói năm 1945. Trong khi bốn Cô Liệu, cô Đượi, cô Hiệu và cô Nhiếp là chị ruột của cha, đều làm dâu nhà dàu, quyền quý mà không giúp được 2 cháu khỏi chết đói, rất đau xót. Thứ thứ Chi Can Cầu nghèo khó, gian nan nhất, có 2 người cháu bị chết đói năm 1945, trong Chi họ có nhiều người vô tự hoặc hiếm muộn. Ông Dương Trọng Lịch và bà Trần Thị Tam là đời thứ 7. Thời còn trẻ phải bôn ba xa quê, khi lập gia đình cũng ở nơi đất khách quê người, phải lăn lộn, gian khổ nuôi con, Năm 2005 khi ông Lịch qua đời được các con lo nơi an giấc ngàn thu rất chu toàn. Vợ ông Lịch được các con đưa ra Hà Nội chăm sóc nuôi dường tuổi già. Các con của ông Lịch cũng trải qua một thời gian nan, sống dưới gầm cầu Long Biên để kiếm sống, học tập và lập nghiệp nay cũng thành đạt, các con ông đếu tốt nghiệp Đại học chính quy có 1 con du học ở Mỹ và 1 con định cư tại Hoa Kỳ. Nay các con cháu đều trưởng thành, cha mẹ có thể tự hào cũng là tấm gương cho con cháu họ Dương vượt khó, vượt khổ để lập nghiệp.

Ghi chú: 1. Các chức danh của các bậc tiên tổ thời Phong kiến thuộc Pháp trước năm 1945 ghi trong gia phả:
- Về chức danh quản lý làng xã: Từ thời nhà Nguyễn (1824- 1883) sau khi Vua Gia Long thống nhất đất nước chính quyền trung ương chỉ quản cấp phủ và huyện, trao quyền cai tổng, phó tổng do các làng bầu. Năm 1904, thực dân Pháp tổ chức “Ban Hội Tề” (còn gọi là Hội đồng làng) có các chức vụ: Hương cả, Hương chủ, Hương sư, Hương trưởng, Hương chánh, Hương giáo, Hương quản, Hương bộ, Hương thân, Xã trưởng, Hương hào…Ở Trung Kỳ, năm 1942, Triều đình Huế thành lập Hội đồng Kỳ hào, cơ quan chấp hành là Lý trưởng, Phó lý, Ngũ hương. Bộ máy quản lý làng, xã: Chánh hội, Phó hội, Lý trưởng, Khán thủ, Trương tuần, Phó lý, chưởng bạ, trị bạ, hộ lại; thư ký, thủ quỹ do dân bầu, không do quan trên bổ nhiệm;
- Phường: là tổ chức phường nghề như Phường vải, Phường nề, phường mộc,
- Hội tư văn: là môt tổ chức xã hội của kẻ sỹ dân quê học chữ nho, có các chức danh Hội trưởng, Điển văn, Tả văn do hội bầu chọn
- Hội hương binh: là hội các cựu chiến binh làng, xã đứng đầu là Hội trưởng
- Giáp: Là hội dựa trên quan hệ tuổi tác, tiến thân bằng tuổi tác, gọi là “Xí tác” theo nguyên tắc “trọng xí” được năng dần theo tuổi tác, như già làng ở các dân tộc miền núi
2. Tham khảo các đia danh thời Pháp thuộc trong Gia phả bản chữ Hán
Theo sách Tên làng xã Việt Nam đầu thế ký XIX, danh xưng Đô Lương có từ năm 1831. Đô Lương là một Tổng thuộc huyện Nam Đường, phủ Anh Đô. Phủ Anh Đô gồm có 2 huyện: Nam Đường và Hưng Nguyên. Huyện Nam Đường: gồm có 8 tổng, 90 xã, thôn, phường, trại, sách, giáp, vạn, đó là:
- Tổng Đô Lương gồm 24 xã, thôn, giáp:
+ Đô Lương (xã): thôn Cẩm Hoa Thượng, thôn Cẩm Hoa Đông, giáp Nghiêm Thắng, giáp Duyên Quang, thôn Đông Trung, thôn Hoa Viên, thôn Phúc Thị.
+ Đại Tuyền (xã): thôn Phúc Thọ, Đông Am, giáp Trung An, thôn An Thành
+ Bạch Đường: thôn Nhân Trung, thôn Phúc Tuyền, thôn Phúc An, thôn Nhân Bồi, thôn Miếu Đường.
+ Diêm Trường: thôn An Tứ, Bỉnh Trung, Chấp Trung
+ Phường Thiên Lý, thôn Vĩnh Trung, phường Hồng Hoa, phường Duy Thanh.
- Tổng Lãng Điền: Xã Lãng Điền, Mặc Điền, Tào Nguyên, thôn Vạn Hộ, Cấm An, An Lương, vạn Lãng Điền, Mặc Điền, sách Tào Giang.
- Tổng Thuần Trung: gồm các thôn: Thuần Trung, Tràng Bộc, Yết Nghi, Phật Kệ, Sơn La. - Tổng Bạch Hà: Xã Bạch Hà, Nhân Luật, Lưu Sơn, Thanh Thủy, Đào Ngoã.
- Tổng Non Liễu: 20 xã, thôn, giáp: Non Liễu, Yên Lạc, Thanh Tuyền, Non Hồ, Vân Đồn, Chung Giáp, Thượng Hồng (thôn).
- Tổng Lâm Thịnh; - Tổng Đại Đồng; - Tổng Hoa Lâm

Cập nhật 01 tháng 05 năm 2025

Dương Trọng Bảng thế tôn Trưởng nam Can Phiên đời thứ 7

GIA PHẢ THỨ CHI - CAN THUYÊN

LÀNG QUAN NỘI, XÓM ĐẠI ĐỒNG, XÃ ĐÔ LƯƠNG

(Cập nhật bổ sung tháng 29/8/2025)

NGUỒN GỐC THUỶ TỐ HỌ DƯƠNG TRỌNG

Nguồn gốc thủy tổ: họ Dương Trọng làng Quan Nội nguyên quán: thôn Giáp. xã Cao Hương, phủ Nghĩa Hưng, huyện Thiện Bản, tỉnh Nam Định di cư vào Nghệ An khoảng năm 1700. Đã có 1 bài viết riêng trong blog này

→ Xem bài: Nguồn gốc thủy tổ họ Dương Trọng

CAO TỔ TỘC HỌ DƯƠNG TRỌNG LÀNG QUAN NỘI

Đời thứ 1:

D1. Cao tổ khảo, thứ nam DƯƠNG CÔNG LÂM (揚 彸 林), tự CÔNG CƠ (彸 基) là CAO TỔ HỌ DƯƠNG xóm Quan Nội, làn Kim Liên, xã Thịnh Sơn. Sinh năm Nhâm Thìn (1772), Giỏi về nghề ghi chép sổ sách, giữ chức Tri bạ (địa chính). Giỗ ngày 13/2, mộ táng tại Yên Lăng, đồng Nhà Thánh. Cao tổ tỷ Trần Thị Hằng, huý Thị Bằng, hiệu Từ thuận nhụ nhân thần vị. Giỗ ngày 18/1, mộ táng tại Làng Quan Nội, đông xóm Thượng, Quyết Điền xứ, tọa Tý, hướng Ngọ. Thân sinh cụ Công Cơ vốn ở Lãng Điền, có một thời gian xa quê lấy vợ rồi quay về quê cũ của tổ ở xã Yên Lăng, làng Quán Nội, xóm Thượng. Cụ ông bị bệnh mất sớm, cụ bà một mình nuôi con, tạo được ruộng ao vườn chia làm 4 phần có di chúc cho 4 con (3 nam 1 nữ):
D2.1.1 Trưởng nam Dương Trọng Hướng (揚 仲 珦), huý Trọng Dong (仲 瑢), tự là Trọng Dung sinh năm Giáp Tý 1804;
D2.1.2 Thứ nam Dương Trọng Thuyên (揚 仲 銓), huý Trọng Toàn, tự Trọng Uổng, tự Quang Cảnh phu quân, sinh năm Đinh Mão (1807):
D2.1.3 Nam thứ ba Dương Trọng Cầu (揚 仲 球)phu quân, húy Trọng Thứ (仲 庶) sinh năm Kỷ Tỵ (1809)
D2.1.4 Nhất nữ:Dương Thị Đẩu (揚 氏 斗) là em gái Dương Trọng Hướng, lấy chồng Lê Nhâm nhưng không có con nên phần ruộng của bà Đẩu hoàn lại cho 3 chi. Giỗ ngày 13/8. Lăng Tổ bà Dương Nhất Nương hiệu Anh Linh Thần vị ở hậu xóm Thượng được con cháu hậu duệ tôn tạo nhiều lần, đặc biệt năm 2024-2025 có sự đóng góp lớn của Trọng Tư, Trọng Thiết Chi Can Phiên và ông Dương Quốc Huy là người con họ Dương quê ở Bắc Ninh nâng cấp khang trang, có hồ sen, đài phun nước, tưởng rào, sân, đường nội bộ và cổng bằng đá tự nhiên

Cổng vào nhà thờ đại tôn lắp dựng năm Canh Tý 2011

Quần thể Lăng tổ cô Dương Nhất Nương hoàn thành năm 2025

Lăng tổ cô Dương Nhất Nương tại Hậu Xóm Thượng

Đời thứ 2

Ba con trai kế hậu của cao tổ Dương Công Lâm (Công Cơ)

D2.1 Trưởng Nam, DƯƠNG TRỌNG HƯỚNG (揚 仲 珦): huý Trọng Dong (仲 瑢) tên chữ Trọng Dung (1804 Giáp tý – 4/6/1876 Bính Tý), là trưởng nam thừa hưởng cơ nghiệp của ông cha, trở thành cự phú, ruộng có 2 mẫu, vườn 3 sào, đã khởi công xây dựng từ đường của họ Dương tại xóm Thượng và được con cháu hoàn thành vào năm Tự Đức Canh Thìn (1880). Bà cả Lê Thị Điềm, tên húy Thị Hằng, nhị huý Thị Thiệt, sinh năm Mậụ Dần (1818), là người cùng thôn sinh đắc 2 trai 6 gái, giỗ ngày 21/10. Mộ táng tại Thế Thế Văn xứ Tiên ông là nơi phúc địa (phía sau động Cao xã Bài Sơn). Bà hai Phạm Thị Thân, người Cao Xá, sinh được 1 trai, 1 gái lập gia đình ở thôn Quan Nội, xóm Thượng, sinh 1 con gái. Con 3 trai 7 gái:
D3.1.1 Dương Trọng Đỉnh (Triệt), con bà cả;
D3.1.2 Dương Trọng Hanh, con bà hai;
D3.1.3 Dương Trọng Đình, con bà cả, mất sớm, vô tự, mộ táng ở Đồng Nền, Kim Giai, giồ 13/5
D3.1.4 Dương Thị Thanh, D3.1.5 Dương Thị Đang; D3.1.6 Dương Thị Hạnh; D3.1.7 Dương Thị Bằng; D3.1.8 Dương Thị Đài; D3.1.9 Dương Thị Huỳnh; D3.1.10 Dương Thị Chanh

Con trai Trưởng Dương TrọngTriệt và con thứ Dương Trong Hanh chia ra hai cửa để thờ cúng: Cửa Giáp do cụ Dương Trong Triệt làm Trưởng tộc gọi là Can Trường và Cửa Ất do cụ Dương Trọng Hanh làm Trưởng chi gọi Can Sinh (Chi ông Phương Đài hiện nay)

D2.2 Thứ nam DƯƠNG TRỌNG THUYÊN (揚 仲 銓): huý Trọng Toàn 仲 佺, tự Trọng Uổng, là Lý trưởng kiêm chức trị sự. Sinh năm Đinh Mão (1807), giỗ ngày 21/6. Vợ Lê Thị Nhị (Thị Ư) giổ ngày 18/7, sinh 5 nam:
D3.2.1 Dương Trọng Sung, vô tự;
D3.2.2 Dương Trọng Đông, vô tự;
D3.2.3 Dương Trọng Trung, vô tự;
D3.2.4 Dương Trọng Hoa;
D3.2.5 Dương Trọng Hoà tự Trọng Miễn

D2.3 Nam thứ ba DƯƠNG TRỌNG CẦU (揚 仲 俅): huý Trọng Thứ 仲 庶). Giữ chức Tri bạ (địa chính), giổ ngày 28/1. Vợ chính thất Nguyễn Thị Lăng giỗ ngày 9/9, sinh nhất nữ. Vợ hai: Nguyễn Thị Tuyết (Tiêu) sinh 1 nam, 1 nữ
D3.3.1 Dương Thị Nùng con bà cả, lấy chồng Nguyễn Viết Cẩn
D3.3.2 Dương Thị Phượng lấy chồng người cùng thôn Hộ Châu thờ cúng
D3.3.3 Dương Trọng Năng, con bà hai

Đời thứ ba: Ba con trai Cao tổ lập thành 3 chi để thờ tự

Con cháu chắt 3 con trai Cao tổ phát triển nhanh, lập thành 3 chi: Chi Trưởng Dương Hưởng, Thứ Chi Can Thuyên- gọi là Chi Đông Tùng và Thứ thứ Chi Can Cầu- gọi là Tri Mỹ Chi để thờ tự:

CHI TRƯỞNG- TRƯỞNG TỘC DƯƠNG HƯỚNG

Hai con trai kế hậu của Trưởng tộc Dương Hướng

D3.1.1 TRƯỞNG NAM DƯƠNG TRỌNG ĐỈNH-(揚 仲 椗),(Mậu Tý 1778 – 1828), thụy phác trực tướng công là Trưởng tộc cửa trưởng, giữ chức tri bạ (đia chính) giỗ ngày 14/10, mộ táng thôn Bàu Vạn vệ tám xứ, huyệt toạ Mùi, hướng Sửu, phân kim Tân Mùi Tân Sửu. Có ba vợ: Vợ cả Lê Thị Kế người cùng thôn, giỗ ngày 10/2, sinh 02 nam 03 nữ (giỗ 10/2) mộ táng xứ Đồng Kiện thổ phụ, toạ Tỵ hướng Hợi, phân kim Đinh Tỵ Đinh Hợi. Vợ hai Trần Thị Diên (Duyên) sinh 01 nữ người thôn Chấp Trung, giỗ ngày 28/8, mộ táng Đồng Bổng xứ, ruộng ông Dương Trọng Chương, thổ phụ phía Tây Bắc, toạ Tỵ hướng Ngọ, phân kim Canh Tỵ, Canh Ngọ. Vợ ba Trần Thị Sâm (còn gọi là Tám) người thôn Chấp Trung, giỗ ngày 16/6 mộ táng Thôn Bàu Vạn, Chấp Quả xứ, ruộng mạ ông Dương Trọng Thiều, toạ ngọ, hướng tý, phân kim Canh Ngọ, Canh Tý, sinh 3 nam 2 nữ: Tất cả có 5 nam 4 nữ:
D4.11.1 Dương Trọng Quỳnh (揚 仲 琼), cố Quyên, con bà cả;
D4.11.2 Dương Trọng Thư (揚 仲 書),tự Trọng Tâm,cố Vân, con bà hai;
D4.11.3 Dương Trọng Phiên (揚 仲 幡), còn gọi là cố Xiển, con bà ba;
D4.11.4 Dương Trọng Khuê (揚 仲 刲)- cố Hoàn, con bà ba;
D4.11.5 Dương Trong Phạn (揚 仲 梵)- mất sớm, vô tD3.1.2ự, con bà Sâm;
D 1.6 Dương bị Châu, con bà hai lấy ông Thái Khắc Luỹ người cùng làng, tái giá với ông Nguyễn Xuân Đạo làng Vạn An;
D4.11.7 Dương Thị Lâm chồng Thái Khắc Khẩn người Làng Hội Tâm sinh có 3 trai 3 gái;
D4.11.8 Thứ nữ Dương Thị Thời chồng Thái Khắc Biểu, người cùng thôn, có 2 trai 1 gái

D3.1.2 THỨ NAM DƯƠNG TRỌNG HANH (揚 仲 亨),

tự Trọng Kỳ, còn có tên Trọng Quách con bà hai, được học hành chu đáo, giữ chức Phó Lý (không do quan trên bổ nhiệm do dân bầu, tương đương với cấp Phó chủ tịch xã), mộ táng tại Đồng Quan. Cố bà chính thất Thái Thị Nhàn ở xóm Hội Tâm sinh nhất nam:
D4.12.1 Dương Trọng Hoán (cố Phó Tiệp)

THỨ CHI CAN THUYÊN- CHI ĐÔNG TÙNG

2.1 Hai con trai kế hậu Thứ nam Dương Trọng Thuyên (揚 仲 銓) (D2.2):

D3.2.4 DƯƠNG TRỌNG HOE, giổ ngày 19/9, mộ táng thôn Bàu Vạn (Yên Thế), thổ phụ vệ Bụt xứ. Vợ là Nguyễn Thị Điều, giỗ ngày 16/7, mộ táng tại ruộng mạ xóm Thượng. Sinh 1 nam, 2 nữ:
D4.24.1 Trưởng nữ Dương Thị Bát lấy ông Thái Văn Khuê người cùng thôn, mộ táng ở Bào Quan xứ, giỗ ngày 8/12.
D4.24.2 Dương Thị Chu lấy ông Nguyễn Thái Lăng cùng thôn, Nguyễn Thái Tắc thờ cúng;
D4.24.3 Nhất nam: Dương Trọng Trung

D3.2.5 DƯƠNG TRỌNG HOÀ, tự Trọng Miễn, giổ ngày 16/10, mộ táng tại ruộng mạ đồng Nắc (phía nam cầu sông Đào). Vợ Thái Thị Cử người cùng thôn. Giổ ngày 26/8. Mộ táng ở thổ phụ đồng Nắc xứ, sinh 5 trai, 2 gái:
D4.25.1 Trưởng nam Dương Trọng Dư (cố Mậu);
D4.25.2 Dương Trọng Cúc (cố Đuyến);
D4.25.3 Dương Trọng Tiến ( cố Túc), vô tự;
D4.25.4 Dương Trọng Uyên, tự trọng Duân;
D4.25.5 Dương Trọng Khai tự Trọng Vồng
Hai con gái không thấy ghi tên trong gia phả

THỨ THỨ CHI CAN CẦU - TRI MỸ CHI

Nhất nam của thứ thứ nam Dương Trọng Cầu D2.3 (揚 仲 俅)

D3.3.3 DƯƠNG TRỌNG NĂNG: Trưởng Chi tộc can Cầu- Tri Mỹ Chi, giổ ngày 20/7 không rõ năm. Mộ can Cầu sau này đã chuyển về trước Nghiã Trang Chi tộc Can Thuyên. Con 1 trai 6 gái:
D4.33.1 Dương Thị Dục;
D4.33.2 Dương Thị Thị lấy chồng người cùng làng;
D4.33.3 Dương Thị Hệ lấy chồng về xã Xuân Sơn;
D4.33.4 Dương Thị Khang lấy ông Thái Văn Thái;
D4.33.5 Dương Trọng Kiện;
D4.33.6 Dương Thị Hoà, chồng Nguyến Đình Thương;
D4.32.7 Dương Thị Thuỳ, chồng Thái Doãn Viên;

Đời thứ tư:

Nghĩa Trang Chi tộc Dương Trong Chương (chi ông Hùng Trang) tại động Cây Chanh, xã Thịnh Sơn

Con trai của Cao tổ Dương Trọng Hoè D3.2.4:

D4.24.3 DƯƠNG TRỌNG TRUNG:, vợ Lê Thị Nhị: vô tự;

Các con trai cụ Dương Trọng Hòa D3.2.5

D4.25.1 DƯƠNG TRỌNG DƯ (cố Mậu) là Trưởng nam , vợ là Trần Thị Hoàn, có 5 con:
D5.251.1 Dương Trọng Hữu;
D5.251.2 Dương Trọng Cượng: vô tự;
D5.251.3 Dương Trọng Thượng: vô tự;
D5.251.4 Dương Trọng Dượng;
D5.251.5 Dương Thị .........lấy chồng đội 5 Thịnh Sơn.

D4.25.2 DƯƠNG TRỌNG CÚC (cố Duyến): bà cả Thái Thị Hành, bà hai Thái Thị Lệ, có 1 con trai:
D5.252.1 Dương Trọng Hướng (…)
Ông Cúc không có người thờ tự, chỉ còn cháu ngoại là Ông Quỳ (đội 5- Thịnh Sơn) con bà Hưởng em ông Dương Trọng Hướng.

D4.25.4 DƯƠNG TRỌNG UYÊN (CỐ DUÂN): Vợ cả: Thái Thị Hạnh, vợ hai Thái Thị Phiệt, có 3 con:
D5.1 Dương Trọng Luân;
D5.2 Dương Trọng Khuân;
D5.3 Dương Trọng Duân;

Đời thứ 5:

Các con trai cụ Dương Trọng Dư (cố Mậu) D4.25.1:

D5.251.1 DƯƠNG TRỌNG HỮU: vợ Thái Thị Cúc, có 4 con:
D6.2511.1 Dương Trọng Cờng;
D6.2511.2 Dương Trọng Niên;
D6.2511.3 Dương Trọng Khuyên;
D6.2511.4 Dương Thị Thựu;

D5.251.4 DƯƠNG TRỌNG DƯỠNG: Chính thất: Thái Thị Ái, á thất: Nguyễn Thị Cầu, có 2 con:
D6.2514.1 Dương Trọng Thích (1902-4/2/1985);
D6.2514.2 Dương Trọng Chí (1906-1955);

Con ông Dương Trọng Uyên D4.25.4:

D5.254.1 DƯƠNG TRỌNG LUÂN: Vợ cả Thái Thị Thịnh, vợ 2 Nguyễn Thị Sương, vợ 3 Nguyễn Thị Lài có 1 con:
D6.2541.1 Dương Trọng Lơn (1902 - 8/2/1943);

D5.254.2 DƯƠNG TRỌNG KHUÂN: vợ Nguyễn Thị Hữu, có 2 con:
D6.2542.1 Dương Trọng Thạch (1901-6/2/1985);
D6.2542.2 Dương Trọng Thực (mất sớm);

D5.254.3 DƯƠNG TRỌNG DUÂN : là ông Từ Đình Làng Kim Liên, có công chăm sóc mồ mả dòng họ Dương, vợ Trần Thị Chẩm sinh 5 trai, còn 2 và 1 gái:
D6.2543.1 Dương Trọng Doan;
D6.2543.2 Dương Trọng Loan;
D6.2543.3 Dương Trọng Cùng;
D6.2543.4 Dương Trọng Tỉu;
D6.2543.5 Dương Trọng Bá;
D6.2543.6 Dương Thị Ba

Đời thứ 6:

Con trai ông Dương Trọng Hữu D5.251.1:

D6.2511.1 DƯƠNG TRỌNG CỜNG: vợ Thái Thị Trinh, có 3 con:
D7.25111.1 Dương Trọng Mậu;
D7.25111.2 Dương Trọng Kiêu;
D7.25111.3 Dương Thị Đa;

D6.2511.2 DƯƠNG TRỌNG NIÊN: chính thất: Thái Thị Diệu, á thất Thái Thị Hợp, có các con:
D7.25112.1 Dương Trọng Thơ (1928-7/1/1971);
D7.25112.2 Dương Trọng Từ (1930- 1981);
D7.25112.3 Dương Thị Nhị (1917- ); chồng xóm 5;
D7.25112.4 Dương Thị Tích; chồng Thái Khắc Câm;

D6.2511.3 DƯƠNG TRỌNG KHUYÊN: vợ Lê Thị Năm, quê Thanh Chương, tham gia phong trào Xô Viết Nghệ Tình, chống thực dân Pháp 1930, là con dâu họ Dương có công với nước, có 2 con:
D7.25113.1 Dương Trọng Kiêng (1925-1945); vợ Thái Thị Hồng
D7.25113.2 Dương (……)

Con trai ông Dương Trọng Dưỡng (D5.251.4):

D6.2514.1 DƯƠNG TRỌNG THÍCH (1902-4/2/1985): giỏi chữ Hán; vợ Thái Thị Loan, người cùng làng, có 5 con:
D7.15141.1 Dương Trọng Nhật (1930-1996);
D7.25141.2 Dương Trọng Quảng (1938- 2004);
D7.25141.3 Dương Trọng Khang (1947-2000);

D6.2514.2 DƯƠNG TRỌNG CHÍ (1906-1955): thường gọi ông Tâm Chí, vợ Thái Thị Tôi, quê Tràng Sơn, có 2 con:
D7.25142.1 Dương Trọng Lới (1949);
D7.25142.2 Dương Trọng Thới (1952); vô tự

Con trai ông Dương Trọng Luân D5.254.1:

D6.2541.2 DƯƠNG TRỌNG LƠN (1902-8/2/1943): vợ Nguyễn Thị Hoan (bà Hạ)- (1908-20/2/1995), bà là ĐVĐCS, là con dâu thảo của họ Dương, có 4 con:
D7.25412.1 Dương Thị Hạ (Thị) (1949), lấy chồng Quang Thành, Yên Thành;
D7.25412.2 Dương Trọng Liên (1934- 1996);
D7.25412.3 Dương Thị Phượng (1940); chồng ông Hồ Trung An, quê tỉnh Bình Định, bộ đội Miền Nam Tập Kết, có 4 con:
D7.25412.4 Dương Trọng Đỉnh Trầm (1942);

Con trai ông Dương Trọng Khuân D5.254.2:

D6.2542.1 DƯƠNG TRỌNG THẠCH (1901-6/2/1985): Chính thất Nguyễn Thị Thực, Á thất: Thái Thị Độ, có 2 con:
D7.25421.1 Dương Thị….. , con bà cả lấy chồng ông Tiến Thịnh Sơn;
D7.25421.2 Dương Thị Diên (1940- 1999); chồng Nguyễn Công Báo;
D7.25421.3 Dương Thị Sinh (1945); chồng Huỳnh Văn Bích, bộ đội đại tá quê Bình Định:
D7.25421.4 Dương Trọng Tràng (1949);
D7.25421.5 Dương Trọng Kỳ (1952- 1998)

Con trai ông Dương Trọng Duân D5.254.3:

D6.2543.1 DƯƠNG TRỌNG DOAN:

D6.2543.2 Dương Trọng Loan:

D6.2543.3 Dương Trọng Tùng:

D6.25413.4 Dương Trọng Tỉu:

D6.25413.5 Dương Trọng Bá:

Đời thứ 7:

Con trai ông Dương Trọng Cờng D6.2511.1:

D7.25111.1 DƯƠNG TRỌNG MẬU:, vợ cả Lê Thị Huân không có con, vợ hai Đào Thị Hoan, sinh 3 trai, 3 gái:
D8.251111.1 Dương Trọng Trang;
D8.251111.2 Dương Trọng Trương;
D8.251111.3 Dương Thị Hường (Ba);
D8.251111.4 Dương Thị Ngân (Bốn);
D8.251111.5 Dương Trọng Hùng;
D8.251111.6 Dương Thị Lý;

D7.25111.2 DƯƠNG TRỌNG KIÊU (1902-1945): vợ Thái Thị Hiềng quê làng Hội Tâm, có 1 con trai:
D8.251112.1 Dương Trọng Cảnh;

Con trai ông Dương Trọng Niên D6.2511.2:

D7.25112.1 DƯƠNG TRỌNG THƠ (1928-7/1/1971): công nhân giao thông, vợ Thái Thị Ba (1927- 29/2/2021) có các con:
D8.251121.1 Dương Thị Hoành, lấy ông Đinh Văn Thìn, ĐH công an;
D8.251121.2 Dương Thị Thi; lấy chồng về Anh Sơn
D8.251121.3 Dương Trọng Tam mất lúc 7 tuổi;
D8.251121.4 Dương Trọng Tứ (1957);
D8.251121.5 Dương Thị Nam (1957), lấy chồng về Thị trấn Đô Lương;
D8.251121.6 Dương Trọng Bắc (1963);
D8.251121.7 Dương Thị Sáu (1961): lấy chồng về Diễn Châu;
D8.251121.8 Dương Trọng Bảy (1969);

D7.25112.2 DƯƠNG TRỌNG TỪ (1930- 1981): Công nhân xây dựng, sống tại Giang Sơn, Đô Lương, vợ Thái Thị Sửu (1934), có 2 con:
D8.251122.1 Dương Trọng Mão (1967);
D8.251122.2 Dương Trọng Thành (1968)

Con trai ông Dương Trọng Khuyên (D6.2511.3):

D7.25113.1 DƯƠNG TRỌNG KIÊNG (1925-1945): vợ Thái Thị Hồng, có 1 con:
D8.251131.1 Dương Thơn (1942), chổng Nguyễn Công Hải ở rể thờ cúng ông bà, cha mẹ), có 1 con trai Liệt sỹ kháng Mỹ: Dương Trọng Sơn (1945-1969)

Con trai ông Dương Trọng Thích D6.2514.1:

D7.25141.1: DƯƠNG TRỌNG NHẬT (1930-1996): tham gia chiến dịch Điên Biên Phủ, công nhân nông trường Mộc Châu, vợ Thái Thị Quỳnh (1940), có 4 con:
D8.251411.1 Dương Trọng Thịnh (1960);
D8.251411.2 Dương Trọng Đường (1963);
D8.251411.3 Dương Trọng Trường (1966 - );
D8.251411.4 Dương Thị Hường (1962);
D8.251411.5 Dương Thị Nam (1957), chồng Phạm Tiến Thuận quê Thái Thụy Thái Bình;

D7.25141.2 DƯƠNG TRỌNG QUẢNG (1938- 6/2/2004): Vợ cả Thái Thị Lan, vợ hai Lê Thị Vận có 2 con:
D8.251412.1 Dương Trọng Vượng, con vợ cả;
D8.251412.2 Dương Trọng Hương, con vợ hai
D7.251411.4 DƯƠNG TRỌNG KHANG (1947-2000); lập nghiệp tại Giang Sơn. Vợ Tăng Thị Liên quê Yên Sơn, có 8 con:
D8.2514114.1 Dương Thị Hòa (1966); chồng Võ Văn Đương, quê Giang Sơn
D8.2514114.2 Dương Trọng Hảo (1969- 23/6/2021);
D8.2514114.3 Dương Thị Thảo (1970), chồng Nguyễn Văn Hoa có 1 trai 1 gái, đã li hôn;
D8.2514114.4 Dương Trọng Khương (1972);
D8.2514114.5 Dương Trọng Sơn (1976);
D8.2514114.6 Dương Thị Thủy (1978); chồng ông Thương, quê Bồi Sơn;
D8.2514114.7 Dương Thị Huyền (1982), chồng Nguyễn Sỹ Dũng, quê Hà Tĩnh, định cư tại Đắc Lắc
D8.2514114.8 Dương Thị Hằng (1986), chồng ông Phú, quê Nghệ An

Con trai ông Dương Trọng Chí D6.2514.2:

D7.25142.1 DƯƠNG TRỌNG LỚI (1949): Lập nghiệp ở Tân Kỳ, vợ Nguyễn Thị Kha quê Thanh Chương, có 2 con:
D8.251421.1 Dương Trọng Thâu (1977); chồng Võ Văn Đương, quê Giang Sơn
D8.251421.2 Dương Trọng Tường (1980);

Con trai con ông Dương Trọng Lơn D6.2541.2:

D7.25412.2 DƯƠNG TRỌNG LIÊN (1934- 1996): Thanh niên cung phong chiến dịch Điện Biên Phủ, chuyển ngành xây dựng, vợ Nguyễn Thị Được, quê Tân Sơn, có 3 con:
D8.254122.1 Dương Trọng Đại Thắng (1978);
D8.254122.2 Dương Trọng Cường (1980);
D8.254122.3 Dương Thị Hợi;

D7.25412.4 DƯƠNG TRỌNG ĐỈNH TRẦM (1942- ): bộ đội, tham gia chiến dịch Quảng Trị, được tặng danh hiệu anh hùng, phong hàm đại tá, Phó Cục Trưởng Cục tác chiến, Hiệu phó Học viện quân sự Việt Nam, vợ Nguyễn Thị Nhân quê Thanh Hóa, bác sỹ, có 2 con:
D8.254124.1 Dương Trọng Chiến (1975);
D8.254124.2 Dương Trọng Thắng (1977);

Con trai ông Dương Trọng Thạch D6.2542.1:

D7.25421.4 DƯƠNG TRỌNG TRÀNG (1949): bộ đội, thương binh; vợ Nguyễn Thị Hiệp, có 3 trai:
D8.254214.1 Dương Trọng Sơn;
D8.254214.2 Dương Trọng Phú;

D7.25421.5 DƯƠNG TRỌNG KỲ (1952- 1998): vợ Lê Thị Diên, có 4 con:
D8.254215.1 Dương Trọng Minh (1974);
D8.254215.2 Dương Trọng Tâm (1976);
D8.254215.3 Dương Trọng Hà (.);
D8.254215.4 Dương Thị Thu

Con trai ông Dương Trọng Duân D6.2542.3:

D7.25423.1 DƯƠNG TRỌNG DOAN: vợ Thái Thị Tích (!902), các con:
D8.254231.1 Dương Thị Long (1932), chồng ông Mậu, xã Thịnh Sơn;
D8.254231.2 Dương Trọng Lan (1935);
D8.254231.3 Dương Thị Nhàn (1938) chồng ông Ba lập nghiệp ở Thái Nguyên;
D8.254231.4 Dương Trọng Quế (1946)

D7.25423.2 DƯƠNG TRỌNG LOAN: ?:

D7.25423.3 DƯƠNG TRỌNG TÙNG: ?:

D7.25423.4 DƯƠNG TRỌNG TỈU (KỶ); (1922- 1998) Vợ Thái Thị Nhiên (1925-1999) các con:
D8.254234.1 Dương Trọng Hoà
D8.254234.2 Dương Trọng Bình
D8.254234.3 Dương Trọng Định
D8.254234.4 Dương Trọng Thịnh
D8.254234.5 Dương Thị Hiệp

D7.25423.5 DƯƠNG TRỌNG BÁ:

Đời thứ 8:

Con trai ông Dương Trọng Mâu D7.25111.1:

D8.25111.1 DƯƠNG TRỌNG TRANG (193 - 1969): tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, cán bộ ngành Thương Mại Hà Bắc, tái ngũ, liệt sỹ hy sinh chiến trường miền Nam ngày 15/...năm 1969. Vợ Nguyễn Thị Ái quê Băc Ninh sinh năm 1944, có 3 con:
D9.25111.1 Dương Trọng Hà;
D9.25111.2 Dương Trọng Phong;
D9.25111.3 Dương Thị Tuyết (1965), sống quê mẹ Bắc Ninh;

D8.25111.2 DƯƠNG TRỌNG TRƯỜNG (1938- 2020): tốt nghiệp Đại học mỏ Địa chất, cư ngụ tại Đồng Nai (là người Biên soan cuốn Gia phả Dương Tộc năm 2008), vợ Nguyễn Thị Xuân, quê Hưng Nguyên, có 5 con:
D9.251112.1 Dương Trọng Vinh;
D9.251112.2 Dương Trọng Bình;
D9.251112.3 Dương Trọng Phương;
D9.251112.4 Dương Thị Hiền (1971); lấy chồng Hà Tây
D9.251112.6 Dương Thị Hòa (1973); lấy chồng Hà Tây

D8.25111.5 DƯƠNG TRỌNG HÙNG (1952): thiếu úy công an vũ trang, vợ Thái Thị Khanh (1960), có 4 con:
D9.251115.1 Dương Thị Hoa (1982);
D9.251115.2 Dương Thị Hường (1984);
D9.251115.3 Dương Thị Hiệp: mất sớm;
D9.251115.4 Dương Trọng Lực (1988)

Con trai ông Dương Trọng Kiêu D7.25111.2:

D8.251112.1 DƯƠNG TRỌNG CẢNH: giỗ 10/9, vợ Dương Thị Hiển (1933), lập nghiệp tại xã Vĩnh Tuy, Hoàng Mai, Hà Nội, có 4 con:
D9.2511121.1 Dương Trọng Thu (1957);
D9.2511121.2 Dương Trọng Khánh (1961- 1991);
D9.2511121.3 Dương Trọng Anh Quyền (1971);
D9.2511121.4 Dương Thị Hường (1966)

Con trai ông Dương Trọng Thơ D7.25112.1:

D8.251121.4 DƯƠNG TRỌNG TỨ (1957): thiếu tá quân đội, sống tại TP Vinh, vợ Thái Thị Huệ (1960) có 2 con:
D9.2511214.1 Dương Trọng Huy;
D9.2511214.2 Dương Trọng Đạt;

D8.251121.6 DƯƠNG TRỌNG BẮC: vợ Thái Thị Huệ (Quê), có 3 con:
D9.2511216.1 Dương Trọng Hồng;
D9.2511216.2 Dương Trọng Phúc;
D9.2511216.3 Dương Thị Sâm;

D8.251121.8 DƯƠNG TRỌNG BẢY: vợ Thái Thị Hương, có 2 con:
D9.2511218.1 Dương Trọng Kiên;
D9.2511218.2 Dương Trọng Trường; Đại Học Công nghiệp HN

Con trai ông Dương Trọng Từ D7.25112.2:

D8.251122.1 DƯƠNG TRỌNG MÀO (1967):, vợ… có 1 con:
D9.2511221.1 Dương Trọng Giáp;

D8.251122.2 DƯƠNG TRỌNG THÀNH (1968):, vợ Thái Thị Năm, có 2 con:
D9.2511222.1 Dương Trọng Hào (1989);
D9.2511222.2 Dương Trọng Hùng (1980)

Con trai ông Dương Trọng Nhật D7.25141.1:

D8.251411.1 DƯƠNG TRỌNG THỊNH (1960): vợ Nguyễn Thị Hồng, quê Phủ Lý- Hà Nam, có 2 con:
D9.2514111.1 Dương Thị Thu Trang (1986);
D9.2514111.2 Dương Trọng Kiên (1994);

D8.251411.2 DƯƠNG TRỌNG ĐƯỜNG: (sinh 1963); vợ Lê Thj Hằng, quê Nam Đàn con:
D9.1 Dương Trọng Bảo (2002);

D8.251411.3 DƯƠNG TRỌNG TRƯỜNG (sinh 1966): Vợ Lưu Thị Tuyết Mai con:
D9.251413.1 Dương Trọng Hiếu;

Con trai ông Dương Trọng Quản D7.25141.2:

D8.251412.1 DƯƠNG TRỌNG VƯỢNG (1965): vợ Trần Thị Diên, quê Tân Sơn, có 3 con:
D9.2514121.1 Dương Thị Xuân (1992);
D9.2514121.2 Dương Thị Hương (1995);
D9.2514121.3 Dương Trọng Huy (1998);

D8.251412.2 DƯƠNG TRỌNG HƯƠNG: vợ Thái Thị Bảy (1976), có 2 con:
D9.2514122.1 Dương Trọng Tiến (1997);
D9.2514122.2 Dương Trọng Tài (1999);

Con trai ông Dương Trọng Khang D7.25141.4:

D8.251414.1 DƯƠNG TRỌNG HẢO (1969): vợ Nguyễn Thị Bốn (1969) sinh 3 trai:
D9.2514141.1 Dương Trọng Hùng (1989);
D9.2514141.2 Dương Trọng Tùng (1992);
D9.2514141.3 Dương Trọng Điệp (1994);

D8.251414.2 DƯƠNG TRỌNG KHƯƠNG (1972): Vợ Hoàng Thị Viên quê Giang Sơn, sinh 1 trai, 2 gái:
D9.2514142.1 Dương Thị Thu (1994);
D9.2514142.2 Dương Thị Nhung (1998);
D9.2514142.3 Dương Trọng Trung Anh (2006)

);

D8.251414.3 DƯƠNG TRỌNG SƠN (1976): Vợ Đinh Thị Hoa (1984), quê Quảng Bình, có 2 trai, 1 gái:
D9.1 Dương Thị Linh (2001);
D9.2 Dương Trọng Minh (2008);
D9.3 Dương Trọng Khôi (2010);

Con trai ông Dương Trọng Liên D7.25412.2:

D8.254122.1 DƯƠNG TRỌNG ĐẠI THẮNG (1978): Công an vũ trang chuyên nghiệp, vợ Nguyến Thị Thảo, quê Hòa Sơn, có 3 con (1 trai, 2 gái sinh đôi):
D9.2541221.1 Dương Tuấn Đạt
D9.2541221.2 Dương Thị (..)
D9.2541221.3 Dương Thị (..)

D8.254122.2 DƯƠNG TRỌNG CƯỜNG (1980): Sỹ quan bộ đội thông tin, vợ Nguyễn Thị Hoài, quê Nhổn Hà Tây, có 2 con:
D9.2541222.1 Dương Thị Hà Anh (2009);
D9.2541222.2 Dương Trọng Đức Hải (2012);

Con trai ông Dương Trọng Đỉnh Trầm D7.25412.4:

D8.254124.1 DƯƠNG TRỌNG CHIẾN (1975): Đại học Hành chính, vợ Nguyễn Thị Khánh quê Hà Tây, có 2 con gái:
D9.2541241.1 Dương Thu Hương (2005);
D9.2541241.2 Dương Thu Hiền (2009);

D8.254124.2 DƯƠNG TRỌNG THẮNG (1977): Cao học nước ngoài, vợ……, các con:
D9.2541242.1
D9.2541242.2

Con trai ông Dương Trọng Doan D7.25423.1:

D8.254231.2 DƯƠNG TRỌNG LAN (1935): Công an vũ trang, Bảo vệ khu nhà ở và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh tạ Ba Đình HN, Vợ bà Thái Thị Sỏi (1926-1977), có 2 con gái:
D9.2542312.1 Dương Thị Thắm (mất sớm);
D9.2542312.2 Dương Thị Tình lấy ông Kỳ cung quê;
Ông Lan tái hôn với bà Bà Thái Thị Tuất (1946) là học báo vụ viên tại Trung Quốc công tác tại miền Nam là vợ của ông Thái Văn Ba ( anh trai của Thái Văn Thi cùng quê Thịnh Sơn) có 1 con trai Thái Văn Sơn. Ông Ba hoạt động và hy sinh ở Thái Lan. Ông Lan và Bà Tuất có 1 trai 2 gái:
D9.2542312.3 Dương Thị Nghĩa (1979)- Đại học sư phạm;
D9.2542312.4 Dương Thị Hằng (1984)- Đại học sư phạm;
D9.2542312.5 Dương Trọng Hiếu (1986); Đại học; Vợ: Nguyễn Thị Thuỷ quê huyện Hưng Nguyên,

D8.254231.4 DƯƠNG TRỌNG QUẾ (1943): kỹ sư nông nghiệp, công tác tại Trại giống Nghệ An, vợ Lê Thị Nhu quê Bình Sơn, có 4 con:
D9.2542314.1 Dương Thị Hoè (1975)
D9.2542314.2 Dương Trọng Sâm (1977)
D9.2542314.3 Dương Thị Mai (1980)
D9.2542314.4 Dương Trọng Dũng (1982)

Con trai ông Dương Trong Tỉu (Kỷ) D7.25423.4:

D8.254234.1 DƯƠNG TRỌNG HOÀ (1957): Vợ Trần Thị Hường, có 2 con:
D9.2542341.1 Dương Trọng Tuấn
D9.2542341.2 Dương Trọng Tú

D8.254234.2 DƯƠNG TRỌNG BÌNH (1959): vợ Nguyễn Thị Đức, các con:
D9.2542342.1 Dương Trọng Đại
D9.2542342.2 Dương …………

D8.254234.3 DƯƠNG TRỌNG ĐỊNH (1961-1999): vợ Thái Thị Minh (1964), có 3 con:
D9.2542343.1 Dương Thị Vân lấy chồng về Tân Sơn
D9.2542343.2 Dương Trọng Ngân
D9.2542343.3 Dương Trọng Phương

D8.254234.4 DƯƠNG TRỌNG THỊNH:

Đời thứ 9:

Con trai ông Dương Trọng Trung D8.25111.1:

D9.251111.1 DƯƠNG TRỌNG HÀ (1962): là Trưởng chi tộc đời thứ 9, lập nghiệp ở Bắc Ninh, vợ Nguyễn Thị Văn (1967), giáo viên, có con:
D10.2511111.1 Dương Trọng Đạt (2002) - Trưởng Chi đời thứ 10;

D9.251111.2 DƯƠNG TRỌNG PHONG (1968): lập nghiệp tại TP HCM, vợ Bùi Thị Chính, có 2 con:
D10.2511112.1 Dương Thị Mai Chinh;
D10.2511112.2 Dương Thị Tuyết

Con trai ông Dương Trọng Trường (D8.25111.2):

D9.251112.1 DƯƠNG TRỌNG VINH (1969): Đại học Kinh tế, vợ Thái Thị Bạch, có 2 con:
D10.2511121.1 Dương Quang Minh;
D10.2511121.2 Dương Thị Minh Tâm;

D9.251112.2 DƯƠNG TRỌNG BÌNH (1976): Đại học Thủy sản, vợ Trần Thị Minh, có 2 con:
D10.2511122.1 Dương Trọng Bảo;
D10.2511122.2 Dương Trọng Nguyên

D9.251112.3 DƯƠNG TRỌNG PHƯƠNG (1978): vợ Nguyễn Thị Minh Tâm, có 2 con:
D10.2511123.1 Dương Thị Thương Như;
D10.2511123.2 Dương Trọng Khoa

Con trai ông Dương Trọng Hùng D8.25111.5:

D9.251115.4 DƯƠNG TRỌNG LỰC (1988):

Con trai ông Dương Trọng Cảnh D8.251112.1:

D9.2511121.1 DƯƠNG TRỌNG THU (1957): vợ Đặng Thị Ngân có 2 con:
D10.25111211.1 Dương Lan Hương;
D10.25111211.2 Dương Thanh Huyền;

D9.2511121.3 DƯƠNG TRỌNG ANH QUYỀN (1971): đại học Thương mại, vợ Lê thị Tuyết Thanh quê Mê Linh Hàn Nội, có con:
D10.25111213.1 Dương Trọng Anh Quân (2008);

Con trai ông Dương Trọng Từ D8.251121.4:

D9.2511214.1 Dương Trọng Huy:

D9.2511214.2 Dương Trọng Đạt:

Con trai ông Dương Trọng Bắc D8.251121.6:

D9.2511216.1 Dương Trọng Hồng:

D9.2511216.2 Dương Trọng Phúc:

Con trai ông Dương Trọng Bảy D8.251121.8:

D9.2511218.1 Dương Trọng Kiên:

D9.2511218.2 Dương Trọng Trường: Đại Học Công nghiệp HN

Con trai ông Dương Trọng Mão D8.251122.1:

D9.2511221.1 Dương Trọng Giáp:

Con trai ông Dương Trọng Thành D8.251122.2:

D9.2511222.1 Dương Trọng Hào (1989):

D9.2511222.2 Dương Trọng Hùng (1980):

Con trai ông Dương Trọng Thịnh D8.251411.1:

D9.2514111.2 Dương Trọng Kiên (1994):

Con trai ông Dương Trọng Đường D8.251411.2:

D9.2514112.1 Dương Trọng Bảo (2002):

Con trai ông Dương Trọng Trường D8.251411.3:

D9.2514113.1 Dương Trọng Hiếu:

Con trai ông Dương Trọng Vương D8.251412.1:

D9.2514121.3 Dương Trọng Huy (1998):

Con trai ông Dương Trọng Hương D8.251412.2:

D9.2514122.1 Dương Trọng Tiến (1997):

D9.2514122.2 Dương Trọng Tài (1999):

Con trai ông Dương Trọng Hào D8.251414.1:

D9.2514141.1 Dương Trọng Hùng (1989):

D9.2514141.2 Dương Trọng Tùng (1992):

D9.2514141.3 Dương Trọng Điệp (1994):

Con trai ông Dương Trọng Khương D8.251414.2:

D9.2514142.3 Dương Trọng Trung Anh (2006):

Con trai ông Dương Trọng Sơn D8.251414.3:

D9.2514143.2 Dương Trọng Minh (2008):

D9.2514143.3 Dương Trọng Khôi (2010):

Con trai ông Dương Trọng Đại Thắng D8.254122.1:

D9.2541221.1 Dương Tuấn Đạt:

Con trai ông Dương Trọng Cường D8.254122.2:

D9.2541222.2 Dương Trọng Đức Hải (2012):

Con trai ông Dương Trọng Chiến D8.254124.1:
Con trai ông Dương Trọng Thắng D8.254124.2:
Con trai ông Dương Trọng Lan D8.254231.2:

D9.2542312.5 DƯƠNG TRỌNG HIẾU (1986): Đại học; Vợ: Nguyễn Thị Thuỷ quê huyện Hưng Nguyên:

Con trai ông Dương Trọng Quế D8.254231.4:

D9.2542314.2 Dương Trọng Sâm (1977):

D9.2542314.4 Dương Trọng Dũng (1982):

Con trai ông Dương Trọng Hoà D8.254234.1:

D9.2542341.1 DƯƠNG TRỌNG TUẤN:

D9.2542341.2 DƯƠNG TRỌNG TÚ:

Con trai ông Dương Trọng Định D8.254234.3:

D9.2542343.2 DƯƠNG TRỌNG NGÂN:

D9.2542343.3 DƯƠNG TRỌNG PHƯƠNG:

Đời thứ 10:

Con trai ông Dương Trọng Hà D9.251111.1:

D10.2511111.1 DƯƠNG TRỌNG ĐẠT (2002): Trưởng Chi đời thứ 10;

Con trai ông Dương Trọng Phong D9.251111.2:
Con trai ông Dương Trọng Vinh D9.251112.1:

D10.2511121.1 DƯƠNG QUANG MINH:

Con trai ông Dương Trọng Bình D9.251112.2:

D10.2511122.1 DƯƠNG TRỌNG BẢO:

D10.2511122.2 DƯƠNG TRỌNG NGUYÊN:

Con trai ông Dương Trọng Phương D9.251112.3:

D10.2511123.2 DƯƠNG TRỌNG KHOA:

Con trai ông Dương Trọng Lực D9.251115.4:
Con trai ông Dương Trọng Thu D9.2511121.1:
Con trai ông Dương Trọng Anh Quyền D9.2511121.3:

D10.25111213.1 DƯƠNG TRỌNG ANH QUÂN (2008):

Con trai ông Dương Trọng Huy D9.2511214.1:
Con trai ông Dương Trọng Đạt D9.2511214.2:
Con trai ông Dương Trọng Kiên D9.2511218.1:
Con trai ông Dương Trọng Trường D9.2511218.2:
Con trai ông Dương Trọng Giáp D9.2511221.1:
Con trai ông Dương Trọng Hào D9.2511222.1:
Con trai ông Dương Trọng Hùng D9.2511222.2:
Con trai ông Dương Trọng Kiên D9.2514111.2:
Con trai ông Dương Trọng Hiếu D9.2514113.1:
Con trai ông Dương Trọng Huy D9.2514121.3:
Con trai ông Dương Trọng Tiến D9.2514122.1:
Con trai ông Dương Trọng Tài D9.2514122.2:
Con trai ông Dương Trọng Hùng D9.2514141.1:
Con trai ông Dương Trọng Tùng D9.2514141.2:
Con trai ông Dương Trọng Điệp D9.2514141.3:
Con trai ông Dương Trọng Trung Anh D9.2514142.3:
Con trai ông Dương Trọng Minh D9.2514143.2:
Con trai ông Dương Trọng Khôi D9.2514143.3:
Con trai ông Dương Tuấn Đạt D9.2541221.1:
Con trai ông Dương Trọng Đức Hải D9.2541222.2:
Con trai ông Dương Trọng Hiếu D9.2542312.5:
Con trai ông Dương Trọng Sâm D9.2542314.2:
Con trai ông Dương Trọng Dũng D9.2542314.4:
Con trai ông Dương Trọng Tuấn D9.2542341.1:
Con trai ông Dương Trọng Tú D9.2542341.2:
Con trai ông Dương Trọng Ngân D9.2542343.2:
Con trai ông Dương Trọng Phương D9.2542343.3:

Cập nhật 01 tháng 05 năm 2025

Dương Trọng Bảng thế tôn Trưởng nam Can Phiên đời thứ 7

Ghi chú:

1. Các chức danh của các bậc tiên tổ thời Phong kiến thuộc Pháp trước năm 1945 ghi trong gia phả:
- Về chức danh quản lý làng xã: Từ thời nhà Nguyễn (1824- 1883) sau khi Vua Gia Long thống nhất đất nước, chính quyền trung ương chỉ quản cấp phủ và huyện, trao quyền cai tổng, phó tổng do các làng bầu. Năm 1904, thực dân Pháp tổ chức “Ban Hội Tề” (còn gọi là Hội đồng làng) có các chức vụ: Hương cả, Hương chủ, Hương sư, Hương trưởng, Hương chánh, Hương giáo, Hương quản, Hương bộ, Hương thân, Xã trưởng, Hương hào…Ở Trung Kỳ, năm 1942, Triều đình Huế thành lập Hội đồng Kỳ hào, cơ quan chấp hành là Lý trưởng, Phó lý, Ngũ hương. Bộ máy quản lý làng, xã: Chánh hội, Phó hội, Lý trưởng, Khán thủ, Trương tuần, Phó lý, chưởng bạ, trị bạ, hộ lại; thư ký, thủ quỹ do dân bầu, không do quan trên bổ nhiệm;
- Phường: là tổ chức phường nghề như Phường vải, Phường nề, phường mộc,
- Hội tư văn: là môt tổ chức xã hội của kẻ sỹ dân quê học chữ nho, có các chức danh Hội trưởng, Điển văn, Tả văn do hội bầu chọn
- Hội hương binh: là hội các cựu chiến binh làng, xã đứng đầu là Hội trưởng
- Giáp: Là hội dựa trên quan hệ tuổi tác, tiến thân bằng tuổi tác, gọi là “Xí tác” theo nguyên tắc “trọng xí” được năng dần theo tuổi tác, như già làng ở các dân tộc miền núi
2. Tham khảo các đia danh thời Pháp thuộc trong Gia phả bản chữ Hán
Theo sách Tên làng xã Việt Nam đầu thế ký XIX, danh xưng Đô Lương có từ năm 1831. Đô Lương là một Tổng thuộc huyện Nam Đường, phủ Anh Đô. Phủ Anh Đô gồm có 2 huyện: Nam Đường và Hưng Nguyên. Huyện Nam Đường: gồm có 8 tổng, 90 xã, thôn, phường, trại, sách, giáp, vạn, đó là:
- Tổng Đô Lương gồm 24 xã, thôn, giáp:
+ Đô Lương (xã): thôn Cẩm Hoa Thượng, thôn Cẩm Hoa Đông, giáp Nghiêm Thắng, giáp Duyên Quang, thôn Đông Trung, thôn Hoa Viên, thôn Phúc Thị.
+ Đại Tuyền (xã): thôn Phúc Thọ, Đông Am, giáp Trung An, thôn An Thành
+ Bạch Đường: thôn Nhân Trung, thôn Phúc Tuyền, thôn Phúc An, thôn Nhân Bồi, thôn Miếu Đường.
+ Diêm Trường: thôn An Tứ, Bỉnh Trung, Chấp Trung
+ Phường Thiên Lý, thôn Vĩnh Trung, phường Hồng Hoa, phường Duy Thanh.
- Tổng Lãng Điền: Xã Lãng Điền, Mặc Điền, Tào Nguyên, thôn Vạn Hộ, Cấm An, An Lương, vạn Lãng Điền, Mặc Điền, sách Tào Giang.
- Tổng Thuần Trung: gồm các thôn: Thuần Trung, Tràng Bộc, Yết Nghi, Phật Kệ, Sơn La. - Tổng Bạch Hà: Xã Bạch Hà, Nhân Luật, Lưu Sơn, Thanh Thủy, Đào Ngoã.
- Tổng Non Liễu: 20 xã, thôn, giáp: Non Liễu, Yên Lạc, Thanh Tuyền, Non Hồ, Vân Đồn, Chung Giáp, Thượng Hồng (thôn).
- Tổng Lâm Thịnh; - Tổng Đại Đồng; - Tổng Hoa Lâm